LUẬT GIÁO DỤC SỬA ĐỔI

QUỐC HỘI

 

Luật số:      /2019/QH14

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

 

DỰ THẢO

Ngày 19/4/2019

 

                      LUẬT

GIÁO DỤC (SỬA ĐỔI)

 

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Quốc hội ban hành Luật Giáo dục (sửa đổi).

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

 

  1. 1. Phm vi điều chnh

Luật này quy định về hệ thống giáo dục quốc dân; nhà trường, cơ sở giáo dục khác; nhà giáo, người học; trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giáo dục.

  1. 2. Mục tiêu giáo dục

Mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; ý thức, phẩm chất, năng lực của công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.

  1. 3. Tính chất, nguyên lý giáo dục

1. Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.

2. Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.

  1. 4. Phát triển giáo dục

1. Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồing nhân tài.

2. Phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học, công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; bảo đảm cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền, cơ cấu nguồn nhân lực; mở rộng quy mô trên cơ sở bảo đảm chất lượng và hiệu quả; kết hợp giữa đào tạo và sử dụng.

3. Phát triển hệ thống giáo dục mở, xây dựng xã hội học tập nhằm tạo cơ hội cho mọi người được tiếp cận giáo dục, được học tập ở mọi trình độ, mọi hình thức, suốt đời, học tập trở thành nhu cầu tự thân, mỗi cá nhân biết tận dụng triệt để các cơ hội học tập do xã hội mang lại.

  1. 5. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Giáo dục chính quy là giáo dục theo các khoá học trong nhà trường để thực hiện một chương trình giáo dục, đào tạo nhất định, được thiết lập theo mục đích của các cấp học, trình độ đào tạo và được cấp văn bằng trong hệ thống giáo dục quốc dân.

2. Giáo dục thường xuyên là giáo dục để thực hiện một chương trình giáo dục nhất định, bao gồm hình thức vừa làm vừa học, học từ xa, tự học, tự học có hướng dẫn và các hình thức học khác; đào tạo theo các lớp học, khóa học tại cơ sở giáo dục hoặc cơ sở liên kết đào tạo; thực hiện linh hoạt về chương trình, thời gian, phương pháp, địa điểm, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người học.

3. Kiểm định chất lượng giáo dục là hoạt động đánh giá, công nhận cơ sở giáo dục hoặc chương trình giáo dục, đào tạo đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành.

4. Niên chế là hình thức tổ chức quá trình giáo dục, đào tạo theo năm học.

5. Tín chỉ là đơn vị dùng để đo lường khối lượng kiến thức, kỹ năng và kết quả học tập đã tích lũy được trong một khoảng thời gian nhất định.

6. Mô-đun là đơn vị học tập được tích hợp giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ một cách hoàn chỉnh nhằm giúp cho người học có năng lực thực hiện trọn vẹn một hoặc một số công việc của một nghề.

7. Chuẩn đầu ra là yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của người học sau khi hoàn thành một chương trình giáo dục, đào tạo.

8. Phổ cập giáo dục là quá trình tổ chức hoạt động giáo dục để mọi công dân trong độ tuổi đều được học tập và đạt tới một trình độ học vấn tối thiểu theo quy định của Nhà nước.

9. Giáo dục bắt buộc là giáo dục mà mọi công dân trong độ tuổi quy định bắt buộc phải học tập để đạt được trình độ học vấn theo quy định; Nhà nước bảo đảm các điều kiện để mọi công dân có trách nhiệm học tập nhằm đạt được một trình độ học vấn theo quy định của pháp luật.

10. Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân đầu tư trong lĩnh vực giáo dục bằng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước, bao gồm nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài.

  1. 6. Hệ thống giáo dục quốc dân

1. Hệ thống giáo dục quốc dân là hệ thống giáo dục mở, liên thông bao gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên.

2. Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:

a) Giáo dục mầm non gồm giáo dục nhà trẻ và giáo dục mẫu giáo;

b) Giáo dục phổ thông gồm giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở và giáo dục trung học phổ thông;

c) Giáo dục nghề nghiệp đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác;

d) Giáo dục đại học đào tạo trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ.

3. Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và Khung trình độ quốc gia Việt Nam; quy định thời gian đào tạo, tiêu chuẩn cho từng trình độ đào tạo, khối lượng học tập tối thiểu đối với các trình độ của giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học.

  1. 7. Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục

1. Nội dung giáo dục phải bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại, có hệ thống và được cập nhật thường xuyên; coi trọng giáo dục tư tưởng, phẩm chất đạo đức và ý thức công dân; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phù hợp với sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tâm lứa tuổi và khả năng của người học.

2. Phương pháp giáo dục phải khoa học, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học và hợp tác, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.

  1. 8. Chương trình giáo dục

1. Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học; các môn học, mô-đun, ngành học đối với từng trình độ đào tạo.

2. Chương trình giáo dục phải bảo đảm tính khoa học và thực tiễn; kế thừa và liên thông giữa các cấp học và trình độ đào tạo; tạo điều kiện cho sự phân luồng, chuyển đổi giữa các trình độ đào tạo, ngành đào tạo và hình thức giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân; tạo điều kiện để địa phương và cơ sở giáo dục chủ động triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp với điều kiện của nhà trường; là cơ sở bảo đảm chất lượng giáo dục toàn diện; đáp ứng mục tiêu bình đẳng giới, yêu cầu hội nhập quốc tế.

3.u cu về chuẩn kiến thức, k năng và phẩm chất, năng lực quy định trong chương trình giáo dục phải được c tha thànhch giáo khoa giáo dục ph thông, giáo trình và tài liệu giảng dạy ở giáo dục nghnghiệp, giáo dục đại học, giáo dục thường xuyên. Sách giáo khoa, giáo trình vài liệu giảng dạy phải đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục.

4. Chương trình giáo dục được tổ chức thực hiện theo năm học đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông; theo năm học hoặc theo phương thức tích lũy mô-đun hoặc tín chỉ đối với giáo dục nghề nghiệp; theo tín chỉ, niên chế hoặc kết hợp giữa tín chỉ và niên chế đối với giáo dục đại học.

Kết quả học tập môn học hoặc tín chỉ, mô-đun mà người học tích lũy được khi theo học một chương trình giáo dục được công nhận để xem xét về giá trị chuyển đổi cho môn học hoặc tín chỉ, mô-đun tương ứng trong chương trình giáo dục khác khi người học chuyển ngành nghề đào tạo, chuyển hình thức học tập hoặc học lên ở cấp học, trình độ đào tạo cao hơn.

5. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo thẩm quyền quy định việc thực hiện chương trình giáo dục, đào tạo và việc công nhận về giá trị chuyển đổi kết quả học tập trong đào tạo các trình độ giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp theo quy định tại Điều này.

  1. 9. Hướng nghiệp và phân luồng trong giáo dục

1. Hướng nghiệp trong giáo dục là hệ thống các biện pháp tiến hành trong và ngoài nhà trường để giúp học sinh có kiến thức về nghề nghiệp và có khả năng lựa chọn nghề nghiệp trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội.

2. Phân luồng trong giáo dục là biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục trên cơ sở thực hiện hướng nghiệp trong giáo dục, tạo điều kiện để học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông tiếp tục học ở cấp học, trình độ cao hơn hoặc theo học giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động phù hợp với năng lực, điều kiện cụ thể của cá nhân và nhu cầu xã hội; góp phần điều tiết cơ cấu ngành nghề của lực lượng lao động phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước.

3. Thủ tướng Chính phủ quy định mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp về giáo dục hướng nghiệp, phân luồng học sinh trong từng giai đoạn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

  1. 10. Liên thông trong giáo dục

    1. Liên thông trong giáo dục là việc sử dụng kết quả học tập đã có để học tiếp ở các cấp học, trình độ khác cùng ngành nghề hoặc khi chuyển sang ngành đào tạo, hình thức giáo dục và trình độ đào tạo khác phù hợp với yêu cầu nội dung tương ứng, bảo đảm công bằng, dân chủ và công khai, tạo cơ hội bình đẳng cho mọi người.

          2. Việc liên thông phải đáp ứng các điều kiện bảo đảm chất lượng; chương trình giáo dục được thiết kế theo hướng kế thừa, tích hợp kiến thức và kỹ năng dựa trên chuẩn đầu ra của từng bậc trình độ đào tạo trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam. Người học không phải học lại kiến thức và kỹ năng đã tích luỹ ở các chương trình giáo dục trước đó.

  1. 11. Ngôn ngữ, chữ viết dùng trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác

1. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác. Căn cứ vào mục tiêu giáo dục và yêu cầu cụ thể về nội dung giáo dục, Thủ tướng Chính phủ quy định việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác.

2. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình theo quy định của Chính phủ; người khuyết tật được học bằng chữ nổi Braille, ngôn ngữ ký hiệu theo quy định của Luật Người khuyết tật.

3. Ngoại ngữ quy định trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong giao dịch quốc tế. Việc tổ chức dạy ngoại ngữ trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác cần bảo đảm để người học được học liên tục, hiệu quả.

  1. 12. Văn bằng, chứng chỉ

1. Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân được cấp cho người học sau khi tốt nghiệp cấp học hoặc sau khi hoàn thành chương trình đào tạo, đạt chuẩn đầu ra của các trình độ tương ứng theo quy định của Luật này.

Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, bằng tốt nghiệp trung cấp, bằng tốt nghiệp cao đẳng, bằng cử nhân, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ và văn bằng trình độ tương đương.

2. Chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân được cấp cho người học để xác nhận kết quả học tập sau khi được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, nghề nghiệp hoặc cấp cho người học dự thi lấy chứng chỉ theo quy định.

3. Văn bằng, chứng chỉ do các cơ sở giáo dục thuộc các loại hình đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân cấp có giá trị pháp lý như nhau.

  1. 13. Quyền và nghĩa vụ học tập của công dân

1. Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân. Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính, đặc điểm cá nhân, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập.

2. Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo môi trường giáo dục an toàn, bảo đảm giáo dục hòa nhập, tạo điều kiện để người học phát huy tiềm năng của mình. Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để người nghèo được học tập, tạo điều kiện để những người có năng khiếu phát triển tài năng.

3. Nhà nước ưu tiên, tạo điều kiện thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập cho người học là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của Luật Trẻ em, người học là người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật, người học thuộc hộ nghèo và cận nghèo.

  1. 14. Phcập giáo dục và giáo dục bắt buộc

1. Nhà nước thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi, giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở. Giáo dục tiểu học là giáo dục bắt buộc.

2. Nhà nước quyết định kế hoạch phổ cập giáo dục, bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục, giáo dục bắt buộc trong cả nước.

3. Mọi công dân trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập.

4. Gia đình, người giám hộ có trách nhiệm tạo điều kiện cho các thành viên của gia đình trong độ tuổi quy định được học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập.

  1. 15. Giáo dục hòa nhập

1. Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu và khả năng khác nhau của các đối tượng người học; đảm bảo quyền học tập bình đẳng, chất lượng, phù hợp với đặc điểm và khả năng của người học; tôn trọng sự đa dạng, những khác biệt về nhu cầu, đặc điểm của người học và không phân biệt đối xử.

2. Nhà nước có chính sách hỗ trợ thực hiện giáo dục hòa nhập cho người học là người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật, người học là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của Luật Trẻ em và các quy định của pháp luật có liên quan.

  1. 16. Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục

1. Pt triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là s nghiệp ca Nhàớc và của toàn dân.

2. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục. Thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục;

3. Mọi t chức, gia đình và côngn có trách nhiệm chăm lo s nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trưng thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựngi trường giáo dục lành mnh và an toàn.

  1. 17. Đầu tư cho giáo dục

1. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển. Đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là hoạt động đầu tư thuộc ngành, nghề đầu tư đặc thù có điều kiện và được ưu đãi, hỗ trợ đầu tư theo quy định của pháp luật.

2. Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục; ưu tiên đầu tư cho phổ cập giáo dục, phát triển giáo dục ở khu vực miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khu công nghiệp, khu chế xuất; khuyến khích phát triển giáo dục chất lượng cao ở các cơ sở giáo dục dân lập, tư thục.

Nhà nước khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục.

3. Ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục.

  1. 18. Vai trò và trách nhiệm của cán bộ quản lý giáo dục

1. Cán bộ quản lý giáo dục gi vai trò quan trọng trong việc t chức, quản lý, điều hành c hoạt động giáo dục.

2. Cán bộ quản lý giáo dục phải không ngừng học tp, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và có trách nhiệm thực hiện các chuẩn, quy chuẩn do Nhà nước quy định.

3. Nhà nước có kế hochy dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục nhằm phát huy vai trò và trách nhiệm của cán bộ quản lý giáo dục, bảo đảm phát triển s nghiệp giáo dục.

  1. 19. Nghiên cứu khoa học

1. Nhà nước tạo điều kiện cho cơ sở giáo dục hoạt động khoa học và công nghệ; kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục; xây dựng nhà trường, cơ sở giáo dục thành trung tâm văn hóa, khoa học, công nghệ của địa phương hoặc của cả nước.

2. Cơ sở giáo dục tự triển khai hoặc phối hợp với tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong việc đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

3. Nhà nước có chính sách ưu tiên phát triển hoạt động khoa học và công nghệ trong cơ sở giáo dục. Các chủ trương, chính sách về giáo dục phải được xây dựng trên cơ sở kết quả nghiên cứu khoa học phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu hướng quốc tế.

  1. 20. Không truyền bá tôn giáo trong cơ sở giáo dục

Không truyền bá tôn giáo, tiến hành các nghi thức tôn giáo trong cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân.

  1. 21. Cấm lợi dụng các hoạt động giáo dục

1. Cấm lợi dụng các hoạt động giáo dục để xuyên tạc chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chia rẽ khối đoàn kết toàn dân tộc, kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, phá hoại thuần phong mỹ tục, truyền bá mê tín, hủ tục, lôi kéo người học vào các tệ nạn xã hội.

2. Cấm lợi dụng hoạt động giáo dục vì mục đích vụ lợi.

  1. 22. Các hành vi bị nghiêm cấm trong cơ sở giáo dục

1. Xúc phạm nhân phẩm, danh dự, xâm phạm thân thể nhà giáo, cán bộ, nhân viên của cơ sở giáo dục và người học.

2. Xuyên tạc nội dung giáo dục.

3. Gian lận trong học tập, kiểm tra, thi cử, tuyển sinh.

4. Hút thuốc, uống rượu, bia, gây rối an ninh, trật tự.

5. Ép buộc học sinh học thêm để thu tiền.

6. Các hành vi bị nghiêm cấm khác theo quy định của pháp luật.

Chương II

HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN

Mục 1

CÁC CẤP HỌC VÀ TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

Tiểu mục 1

GIÁO DỤC MẦM NON

 

  1. 23. Vị trí, vai trò của giáo dục mầm non

Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam, thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em t ba tháng tuổi đếnu tuổi.

  1. 24. Mục tiêu của giáo dục mầm non

Giáo dục mầm non nhằm phát triển toàn diện trẻ em mầm non về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một.

  1. 25. Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục mầm non

1. Nội dung giáo dục mầm non bảo đảm phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em; hài hòa giữa bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ em; phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, kỹ năng xã hội, trí tuệ, thẩm mỹ; tôn trọng sự khác biệt; phù hợp giữa các độ tuổi và liên thông với giáo dục tiểu học.

2. Phương pháp giáo dục mầm non được quy định như sau:

a) Giáo dục nhà trẻ phải tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em được tích cực hoạt động, vui chơi, tạo sự gắn bó giữa người lớn với trẻ em, kích thích sự phát triển các giác quan, cảm xúc và các chức năng tâm sinh lý;

b) Giáo dục mẫu giáo phải tạo điều kiện cho trẻ em được vui chơi, trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh bằng nhiều hình thức, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ em.

  1. 26. Chương trình giáo dục mầm non

1. Chương trình giáo dục mầm non thể hiện mục tiêu giáo dục mầm non; quy định những yêu cầu cần đạt ở mỗi độ tuổi, các hoạt động giáo dục, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, môi trường giáo dục, đánh giá sự phát triển của trẻ em.

Chương trình giáo dục mầm non thống nhất trong cả nước và được tổ chức thực hiện linh hoạt, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và cơ sở giáo dục mầm non.

2. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình giáo dục mầm non trên cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục mầm non; quy định tiêu chuẩn, quy trình biên soạn, chỉnh sửa chương trình giáo dục mầm non; quy định tiêu chuẩn việc lựa chọn đồ chơi, học liệu được sử dụng trong các cơ sở giáo dục mầm non.

  1. 27. Cơ sở giáo dục mầm non

Cơ sở giáo dục mầm non bao gồm:

1. Nhà trẻ, nhóm trẻ độc lập nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến ba tuổi.

2. Trường mẫu giáo, lớp mẫu giáo độc lập nhận trẻ từ ba tuổi đến sáu tuổi.

3. Trường mầm non, lớp mầm non độc lập là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi.

  1. 28. Chính sách phát triển giáo dục mầm non

1. Nhà nước có chính sách đầu tư phát triển giáo dục mầm non; ưu tiên phát triển giáo dục mầm non ở những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn khu công nghiệp, khu chế xuất mật độ dân số cao.

2. Nhà nước có chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển giáo dục mầm non nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Tiểu mục 2

GO DỤC PHỔ THÔNG

 

  1. 29. Các cấp học và độ tuổi của giáo dục phổ thông

1. Các cấp học và độ tuổi của giáo dục phổ thông được quy định như sau:

a) Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến hết lớp năm. Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu tuổi và được tính theo năm;

b) Giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến hết lớp chín. Học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học. Tuổi của học sinh vào học lớp sáu là mười một tuổi và được tính theo năm;

c) Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong ba năm học, từ lớp mười đến hết lớp mười hai. Học sinh vào học lớp mười phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở. Tuổi của học sinh vào học lớp mười là mười lăm tuổi và được tính theo năm.

2. Những trưng hợp học sinh học vượt lớp, học ở tuổi cao hơn tuổi quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm:

a) Học sinh học vượt lớp trong trường hợp phát triển sớm về trí tuệ;

b) Học sinh học độ tuổi cao hơn tuổi quy định trong trường hợp kém phát trin về thể lực và trí tuệ và những trường hợp không bảo đảm học đúng độ tuổi.

          3. Giáo dục phổ thông được chia thành giai đoạn giáo dục cơ bản và giáo dục định hướng nghề nghiệp. Giai đoạn giáo dục cơ bản bao gồm cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở; giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp là cấp trung học phổ thông.

4. Học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông được tiếp tục học ở cấp học, trình độ cao hơn hoặc học các trình độ giáo dục nghề nghiệp tương ứng với các bậc trình độ đào tạo trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam.

Học sinh trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp được học khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông.

5. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định cụ thể những trường hợp học sinh học lưu ban, việc học tiếng Việt của trẻ em người dân tộc thiểu số trước khi vào học lớp một; quy định việc giảng dạy khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp và những trường hợp thuộc khoản 2 Điều này.

  1. 30. Mục tiêu của giáo dục phổ thông

1. Giáo dục phổ thông nhằm phát triển toàn diện cho người học về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo; hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho người học tiếp tục học lên đại học hoặc theo học các chương trình giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

2. Giáo dục tiểu học nhằm hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, năng lực của học sinh; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên trung học cơ sở.

3. Giáo dục trung học cơ sở nhằm củng cố và phát triển kết quả của giáo dục tiểu học; bảo đảm cho học sinh có học vấn phổ thông nền tảng và hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông hoặc học giáo dục nghề nghiệp.

4. Giáo dục trung học phổ thông nhằm trang bị kiến thức công dân; bảo đảm cho học sinh củng cố và phát triển kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có hiểu biết thông thường về kỹ thuật, hướng nghiệp; có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học hoặc học các trình độ của giáo dục nghề nghiệp và chương trình đào tạo nghề nghiệp khác hoặc tham gia lao động.

  1. 31. Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông

1. Nội dung giáo dục phthông phải bảo đảm tính phthông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có h thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học. Yêu cầu về nội dung giáo dục phổ thông được quy định như sau:

a) Giáo dục tiểu học phải bảo đảm cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết v t nhiên, xã hội và con người; có k năng bản v nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quenn luyện thân thể, gin v sinh; có hiểu biết ban đầu v hát, múa, âm nhạc, mthut;

b) Giáo dục trung học cơ sở phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở tiểu học, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp;

c) Giáo dục trung học ph thông phải củng cố, phát triển những nội dung đã học trung học sở, hoàn thành nội dung giáo dục ph thông; ngoài nội dung chủ yếu nhằm bảo đảm chuẩn kiến thức ph thông, cơ bản, toàn diện vàng nghiệp cho mọi học sinh còn nội dung nâng cao một sn học đ phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh.

3. Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc trưng từng môn học, lớp học và đặc điểm đối tượng học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, khả năng tư duy độc lập; phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào quá trình giáo dục.

  1. 32. Chương trình giáo dục phổ thông

1. Chương trình giáo dục phổ thông bảo đảm các yêu cầu sau đây:

a) Thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông;

b) Quy định những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của học sinh cần đạt được sau mỗi cấp học, những nội dung giáo dục bắt buộc đối với tất cả học sinh trên phạm vi cả nước;

c) Quy định phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông;

d) Được xây dựng thống nhất trong cả nước và tổ chức thực hiện linh hoạt, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và cơ sở giáo dục.

đ) Được lấy ý kiến rộng rãi các tổ chức, cá nhân và được thực nghiệm trước khi ban hành.

2. Hội đồng Quốc gia thẩm định chương trình giáo dục phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập để thẩm định chương trình giáo dục phổ thông; Hội đồng bao gồm các nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, nhà khoa học có kinh nghiệm, uy tín về giáo dục và đại diện các cơ quan, tổ chức có liên quan. Hội đồng phải có ít nhất một phần ba tổng số thành viên là các nhà giáo đang giảng dạy ở cấp học tương ứng; hội đồng thẩm định và các thành viên hội đồng phải chịu trách nhiệm về nội dung và chất lượng thẩm định.

3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm về chất lượng chương trình; ban hành Chương trình giáo dục phổ thông sau khi Hội đồng quốc gia thẩm định; quy định tiêu chuẩn, quy trình biên soạn, chỉnh sửa chương trình giáo dục phổ thông; quy định về mục tiêu, đối tượng, quy mô, thời gian thực nghiệm một số nội dung, phương pháp giáo dục mới trong cơ sở giáo dục phổ thông; quy định nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động, tiêu chuẩn, số lượng và cơ cấu thành viên của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục phổ thông.

  1. 33. Sách giáo khoa giáo dục phổ thông

1. Sách giáo khoa giáo dục phổ thông được quy định như sau:

a) Sách giáo khoa triển khai chương trình giáo dục phổ thông, cụ thể hóa các yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông về mục tiêu, nội dung giáo dục, yêu cầu về phẩm chất và năng lực học sinh; định hướng về phương pháp giảng dạy và cách thức kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục; nội dung và hình thức sách giáo khoa không mang định kiến dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, giới, lứa tuổi và địa vị xã hội; sách giáo khoa bao gồm sách in, sách chữ nổi, sách điện tử;

b) Mỗi môn học có một hoặc một số sách giáo khoa; thực hiện xã hội hóa việc biên soạn sách giáo khoa; việc xuất bản sách giáo khoa tuân thủ theo quy định của pháp luật;

c) Cơ sở giáo dục được lựa chọn sách giáo theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo;

d) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức biên soạn tài liệu giáo dục của địa phương đáp ứng nhu cầu và phù hợp với đặc điểm của địa phương, được Hội đồng thẩm định cấp tỉnh thẩm định tài liệu giáo dục của địa phương và được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt.

2. Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa là tổ chức do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập theo từng môn học, hoạt động giáo dục ở từng cấp học, để thẩm định sách giáo khoa. Hội đồng bao gồm các nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, nhà khoa học có kinh nghiệm, uy tín về giáo dục và đại diện các cơ quan, tổ chức có liên quan. Hội đồng phải có ít nhất một phần ba tổng số thành viên là các nhà giáo đang giảng dạy ở cấp học tương ứng; hội đồng thẩm định và các thành viên hội đồng phải chịu trách nhiệm về nội dung và chất lượng thẩm định.

3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm về sách giáo khoa giáo dục phổ thông; phê duyệt sách giáo khoa để sử dụng trong các cơ sở giáo dục phổ thông sau khi Hội đồng quốc gia thẩm định; quy định cụ thể tiêu chuẩn, quy trình biên soạn, chỉnh sửa sách giáo khoa giáo dục phổ thông; việc lựa chọn sách giáo khoa trong các cơ sở giáo dục phổ thông; quy định nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động, tiêu chuẩn, số lượng và cơ cấu thành viên của Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa và Hội đồng thẩm định cấp tỉnh thẩm định tài liệu giáo dục của địa phương.

  1. 34. Cơ sở giáo dục phổ thông

Cơ s giáo dục ph thông bao gồm:

1. Trường tiểu học.

2. Trường trung học cơ sở.

3. Trường trung học phthông.

4. Trường ph thông có nhiều cấp học.

  1. 35. Xác nhận hoàn thành chương trình tiểu học, trung học phổ thông và cấp văn bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông

1. Học sinh học hết chương trình tiểu học có đ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được Hiệu trưởng trường tiểu học xác nhận trong học bviệc hoàn thành chương trình tiểu học.

2. Học sinh học hết chương trình trung học sở có đ điều kiện theo quy định ca B trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được Trưng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện, quận, th, thành ph thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cp huyện) cấp bằng tốt nghiệp trung học cơ s.

3. Học sinh học hết chương trình trung học ph thông đ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được dự thi, đạt yêu cầu thì được Giám đốc S Giáo dục và Đào tạo cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông.

Học sinh học hết chương trình trung học ph thông đ điều kiện dự thi theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nhưng không dự thi hoặc thi không đạt yêu cầu thì được hiệu trưởng nhà trường cấp giấy chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông.

 4. Học sinh có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở học trình độ trung cấp trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp sau khi đã học và thi đạt yêu cầu đủ khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được người đứng đầu cơ sở giáo dục tổ chức giảng dạy khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông cấp giấy chứng nhận đủ yêu cầu khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông.

 

Tiểu mục 3

GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

 

  1. 36. Các trình độ đào tạo giáo dục nghề nghiệp

Giáo dục nghề nghiệp đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.

  1. 37. Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp

Giáo dục nghề nghiệp nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn.

  1. 38. Tổ chức và hoạt động giáo dục nghề nghiệp

Tổ chức và hoạt động giáo dục nghề nghiệp được thực hiện theo quy định của Luật này và Luật Giáo dục nghề nghiệp.

 

Tiểu mục 4

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

 

  1. 39. Các trình độ đào tạo giáo dục đại học

Giáo dục đại học đào tạo trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ.

  1. 40. Mục tiêu của giáo dục đại học

1. Đào tạo nhân lực trình độ cao, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế.

2. Đào tạo người học phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ; có tri thức, kỹ năng, trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng nắm bắt tiến bộ khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo, khả năng tự học, sáng tạo, thích nghi với môi trường làm việc; có tinh thần lập nghiệp, có ý thức phục vụ nhân dân.

  1. 41. Tổ chức và hoạt động giáo dục đại học

Tổ chức và hoạt động giáo dục đại học được thực hiện theo quy định của Luật này và Luật Giáo dục đại học.

Mục 2

GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN

 

  1. 42. Mục tiêu của giáo dục thường xuyên

Giáo dục thường xuyên tạo điều kiện cho mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội; góp phần xây dựng xã hội học tập.

  1. 43. Nhiệm vụ của giáo dục thường xuyên

1. Thực hiện xóa mù chữ cho những người trong độ tuổi theo quy định.

2. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực làm việc; cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng cần thiết của cuộc sống cho mọi người; tạo cơ hội cho người có nhu cầu tiếp tục học tập để nâng cao trình độ học vấn.

  1. 44. Chương trình, hình thức, nội dung, phương pháp giáo dục thường xuyên

1. Nội dung giáo dục thường xuyên được thể hiện trong các chương trình sau đây:

a) Chương trình xóa mù chữ;

b) Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học; cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ;

c) Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực nghề nghiệp;

d) Chương trình giáo dục, đào tạo thuộc chương trình để cấp văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân.

2. Hình thức thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên bao gồm:

a) Vừa làm vừa học;

b) Học từ xa;

c) Tự học, tự học có hướng dẫn;

d) Các hình thức học khác theo nhu cầu của người học.

3. Nội dung giáo dục thường xuyên trong c chương trình quy định tại c điểm a, b và c khoản 1 Điềuy phải bảo đảm tính thiết thực, giúp người học nâng cao kh năng lao động, sản xuất, côngc và chất lượng cuộc sống.

Nội dung giáo dục thường xuyên trong chương trình quy định tại điểm d khoản 1 Điều này phải bo đm các yêu cầu v nội dung của chương trình giáo dục cùng cấp học, trình độ đào tạo quy đnh ti Điều 32 của Luật này, quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp và Luật Giáo dục đại học.

4. Phương pháp giáo dục thường xuyên phải phát huy tính chủ động của người học, coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học; sử dụng phương tiện và công nghệ hiện đại để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học.

5. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo thẩm quyền quy định cụ thể về chương trình, giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu giáo dục thường xuyên.

  1. 45. Cơ sở giáo dục thường xuyên

1. Giáo dục thường xuyên được thực hiện tại các cơ sở giáo dục thường xuyên, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học, cơ sở văn hóa, tại nơi làm việc, cộng đồng dân cư và thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng.

2. Cơ sở giáo dục thường xuyên bao gồm:

a) Trung tâm giáo dục thường xuyên;

b) Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên;

c) Trung tâm học tập cộng đồng;

d) Các trung tâm khác thực hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên.

3. Cơ sở giáo dục thường xuyên thực hiện các chương trình giáo dục thường xuyên quy định tại khoản 1 Điều 44 của Luật này, không có thẩm quyền cấp văn bằng giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; trung tâm học tập cộng đồng thực hiện các chương trình giáo dục quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 44 của Luật này; các trung tâm khác thực hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên quy định tại điểm c khoản 1 Điều 44 của Luật này.

4. Cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp khi thực hiện các chương trình giáo dục thường xuyên phải bảo đảm nhiệm vụ giáo dục, đào tạo của mình, chỉ thực hiện chương trình giáo dục quy định tại điểm d khoản 1 Điều 44 của Luật này khi được cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục có thẩm quyền cho phép.

5. Việc liên kết đào tạo trình độ đại học theo hình thức vừa làm vừa học được thực hiện theo quy định tại Luật Giáo dục đại học.

  1. 46. Đánh giá, công nhận kết quả học tập

1. Học viên tham gia chương trình xóa mù chữ, đủ các điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được công nhận hoàn thành chương trình xóa mù chữ.

2. Học viên hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở quy định tại điểm d khoản 1 Điều 44 có đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo cấp bằng tốt nghiệp trung học cơ sở.

3. Học viên học hết chương trình trung học phổ thông quy định tại điểm d khoản 1 Điều 44 nếu đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được dự thi, nếu đạt yêu cầu thì được Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông; trường hợp không dự thi hoặc thi không đạt yêu cầu thì được giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên cấp giấy chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông.

4. Học viên hoàn thành chương trình đào tạo, đạt chuẩn đầu ra của một trình độ đào tạo theo quy định của Khung trình độ quốc gia Việt Nam thì được cấp bằng tương ứng với trình độ đào tạo.

5. Học viên học các khóa bồi dưỡng theo các hình thức khác nhau được dự thi, nếu đạt yêu cầu theo chuẩn đầu ra của chương trình giáo dục quy định tại các điểm b và c  khoản 1 Điều 44 của Luật này thì được cấp chứng chỉ tương ứng với chương trình học.

  1. 47. Chính sách phát triển giáo dục thường xuyên

1. Nhà nước có chính sách đầu tư phát triển giáo dục thường xuyên, thực hiện giáo dục cho mọi người, thúc đẩy việc học tập của người lớn, xây dựng xã hội học tập; khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia, cung ứng các dịch vụ giáo dục thường xuyên có chất lượng, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của mọi người.

2. Các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động được thường xuyên học tập, học tập suốt đời để phát triển bản thân và nâng cao chất lượng cuộc sống.

3. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học có trách nhiệm phối hợp cung cấp nguồn học liệu đến các cơ sở giáo dục thường xuyên đáp ứng nhu cầu học tập của mọi người; các cơ sở đào tạo giáo viên có trách nhiệm nghiên cứu về khoa học giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo của các cơ sở giáo dục thường xuyên.

 

Chương III

NHÀ TRƯỜNG, TRƯỜNG CHUYÊN BIỆT VÀ CƠ SỞ GIÁO DỤC KHÁC

Mục 1

T CHỨC, HOẠT ĐỘNG, NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN

CỦA NHÀ TRƯỜNG

 

  1. 48. Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân

1. Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được tổ chức theo các loại hình sau đây:

a) Trường công lập do Nhà nước đầu tư, bảo đảm điều kiện hoạt động và đại diện chủ sở hữu;

b) Trường dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở bao gồm tổ chức và cá nhân tại thôn, bản, ấp, xã, phường, thị trấn thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm điều kiện hoạt động theo quy định của pháp luật.

Chỉ thành lập trường dân lập đối với cơ sở giáo dục mầm non;

c) Trường tư thục do nhà đầu tư trong nước hoặc nước ngoài đầu tư, đảm bảo điều kiện hoạt động.

Trường tư thục hoạt động không vì lợi nhuận là trường mà các nhà đầu tư cam kết và thực hiện cam kết hoạt động không vì lợi nhuận, được ghi trong quyết định thành lập hoặc quyết định chuyển đổi loại hình trường; hoạt động không vì lợi nhuận, không rút vốn, không hưởng lợi tức; phần lợi nhuận tích lũy hằng năm thuộc sở hữu chung hợp nhất không phân chia để tiếp tục đầu tư phát triển nhà trường.

2. Nguyên tắc chuyển đổi:

a) Chỉ chuyển đổi loại hình trường tư thục sang trường tư thục hoạt động không vì lợi nhuận;

b) Thực hiện quy định của điều lệ, quy chế về tổ chức và hoạt động của các loại hình nhà trường ở mỗi cấp học và trình độ đào tạo;

c) Việc chuyển đổi phải bảo đảm quyền của giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục, người lao động và người học;

d) Việc chuyển đổi không làm thất thoát đất đai, tiền vốn và tài sản.

3. Chính phủ quy định cụ thể việc chuyển đổi quy định tại khoản 2 Điều này.

  1. 49. Nhà đầu tư

1. Nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục bao gồm:

a) Nhà đầu tư trong nước là cá nhân có quốc tịch Việt Nam, tổ chức kinh tế không có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên;

 b) Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài.

2. Nhà đầu tư có trách nhiệm, quyền hạn sau đây:

a) Thông qua kế hoạch phát triển trường theo quy định của pháp luật do hội đồng trường đề xuất;

b) Quyết định tổng vốn góp của nhà đầu tư, dự án đầu tư phát triển trường, việc huy động vốn đầu tư (nếu có); phương án sử dụng phần chênh lệch thu chi hng năm hoặc phương án xử lý lỗ của trường; thông qua báo cáo tài chính hằng năm;

c) Bầu hoặc cử, miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên bầu của hội đồng trường;

d) Tổ chức giám sát và đánh giá hoạt động của hội đồng trường;

đ) Quyết định ban hành, sửa đổi, bổ sung quy chế tài chính; thông qua các nội dung liên quan đến tài chính, tài sản trong quy chế tổ chức và hoạt động của trường;

e) Góp vốn đầy đủ, đúng hạn, giám sát việc góp vốn vào trường theo đề án thành lập;

f) Xem xét, xử lý vi phạm gây thiệt hại của hội đồng trường theo quy định của pháp luật, quy chế tổ chức và hoạt động của trường;

g) Quyết định tổ chức lại, giải thể trường theo quy định của pháp luật;

h) Công khai danh sách tổ chức và cá nhân góp vốn đầu tư trên trang thông tin điện tử của trường;

i) Quyền và trách nhiệm khác theo quy định của Luật Đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan;

k) Nhà đầu tư thành lập trường hoạt động không vì lợi nhuận được vinh danh về công lao góp vốn đầu tư thành lập, xây dựng và phát triển trường.

3.  Nhà đầu tư vào cơ sở giáo dục đại học có quyền hạn và trách nhiệm theo quy định của Luật Giáo dục đại học, Luật Đầu tư và quy định khác của pháp luật có liên quan.

  1. 50. Trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân

1. Trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Trường của lực lượng vũ trang nhân dân có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng; bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý nhà nước về nhiệm vụ và kiến thức quốc phòng, an ninh.

Trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân là cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Giáo dục đại học, Luật Giáo dục nghề nghiệp và Điều lệ nhà trường ở mỗi cấp học, trình độ đào tạo nếu đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoạt động giáo dục, thực hiện chương trình giáo dục thì được cấp văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân.

2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

  1. 51. kiện thành lập nhà trường và điều kiện để được cho phép hoạt động giáo dục

1. Nhà trường được thành lập khi có đề án thành lập trường phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục theo quy định của Luật Quy hoạch.

Đề án thành lập trường xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, chương trình và nội dung giáo dục; đất đai, cơ sở vật chất, thiết bị, địa điểm dự kiến xây dựng trường, tổ chức bộ máy, nguồn lực và tài chính; phương hướng chiến lược xây dựng và phát triển nhà trường.

2. Nhà trường được phép hoạt động giáo dục khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có đất đai, cơ s vật chất, thiết b đáp ứngu cầu hoạt động giáo dục; địa điểmy dựng trường bảo đảmi trường giáo dục, an toàn cho người học, người dạy và người lao động;

b) chương trình giáo dục vài liệu giảng dạy học tập theo quy định phù hợp với mỗi cấp học và trình đ đào tạo; có đội ngũ nhà giáo vàn b quản lý đạt tiêu chuẩn, đ v s lượng, đồng b v cơ cu để bảo đảm thực hiện chương trình giáo dục và t chức các hoạt động giáo dục;

c) Có đ nguồn lựci chính theo quy định đ bảo đảm duy trì và phát triển hoạt động giáo dục;

d) Có quy chế tchức và hoạt động của nhà trường.

3. Trong thời hạn quy định, nếu nhà trường có đc điều kiện quy định tại khoản 2 Điềuy thì được cơ quan có thẩm quyền cho phép hoạt động giáo dục; hết thời hạn quy định, nếu không đ điều kiện thì quyết định thành lập hoặc quyết định cho phép thành lập bthu hồi.

  1. 52. Đình chỉ hoạt động giáo dục

1. Nhà trường bị đình chỉ hoạt động giáo dục trong các trường hợp sau đây:

a) Có hành vi gian lận đ được cho phép hoạt động giáo dục;

b) Không bảo đảm một trong các điều kin quy định tại khoản 2 Điều 53 của Luật này;

c) Người cho phép hoạt động giáo dục không đúng thẩm quyền;

d) Không triển khai hoạt động giáo dục trong thời hạn quy định k t ngày được phép hoạt động giáo dục;

đ) Vi phạm quy định của pháp luật v giáo dục b x phạt vi phạm hành chính mức đphải đình chỉ;

e) Các trưng hợp khác theo quy định của pháp luật.

2. Quyết định đình ch hoạt động giáo dục đối với nhà trường phảic định rõ lý do đình chỉ, thời hạn đình chỉ, biện pháp bảo đảm quyền lợi ca nhà giáo, người học và người lao động trong trưng. Quyết định đình ch hoạt động giáo dục đối với nhà trường phải được công b công khai trênc phương tiện thông tin đại chúng.

3. Sau thời hạn đình chỉ, nếu nguyên nhân dẫn đến việc đình ch được khắc phục thì người có thẩm quyền quyết định đình chra quyết định cho phép nhà trưng hoạt động giáo dục trlại.

  1. 53. Giải thể nhà trường

1. Nhà trường b giải th trong các trường hợp sau đây:

a) Vi phạm nghiêm trọng quy định vquản, t chức và hoạt động của nhà trưng;

b) Hết thời hạn đình ch hoạt động giáo dục mà không khắc phục được nguyên nhân dẫn đến việc đình chỉ;

c) Mc tiêu và nội dung hoạt động trong quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập trưng khôngn phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội;

d) Theo đnghcủa t chức, cá nhân thành lập trường.

2. Quyết định giải th nhà trường phảic định rõ lý do giải thể, các biện pháp bảo đảm quyền lợi của nhà giáo, người học và người lao động trong trường. Quyết định giải th nhà trưng phải được công b công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng.

  1. 54. Thẩm quyền, thủ tục thành lập hoặc cho phép thành lập; cho phép hoạt động giáo dục, đình chỉ hoạt động giáo dục; sáp nhập, chia, tách, giải thể nhà trường

1. Thẩm quyền thành lập trường công lập và cho phép thành lập trường dân lập, tư thục và trường có vốn đầu tư nước ngoài được quy định như sau:

a) Ch tịchy ban nhânn cấp huyện quyết định đối với trường mầm non, trưng mẫu giáo, trường tiểu học, trưng trung học cơ sở, trường ph thông dân tộcn trú, trừ các trường quy định tại điểm d khoản này;

b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định đối với trường trung học phổ thông, trường phổ thông dân tộc nội trú, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên, trường trung cấp thuộc tỉnh; trường trung học phổ thông, trường trung cấp tư thục, trung tâm giáo dục nghề nghiệp tư thục; trường, trung tâm giáo dục nghề nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh, trừ trường trung học phổ thông quy định tại điểm d khoản 1 Điều này;

c) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quyết định đối với trường trung cấp trực thuộc;

d) Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định đối với trường dự bị đại học, cao đẳng sư phạm và các trường trực thuộc Bộ; trường mầm non, trường mẫu giáo, trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông do cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài, tổ chức quốc tế liên Chính phủ đề nghị;

đ) Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định đối với trường cao đẳng trừ trường cao đẳng sư phạm; trường cao đẳng có vốn đầu tư nước ngoài;

e) Thủ tướng Chính phủ quyết định đối với cơ sở giáo dục đại học.

2. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép hoạt động giáo dục đối với cơ sở giáo dục đại học. Chính phủ quy định cụ thể thẩm quyền cho phép hoạt động giáo dục đối với nhà trường ở các cấp học và trình độ đào tạo khác.

3. Người thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập nhà trường thì có thẩm quyền thu hồi quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập, quyết định sáp nhập, chia, tách, giải th nhà trường. Người thẩm quyền cho phép hoạt động giáo dục thì có thẩm quyền quyết định đình chhoạt động giáo dục.

4. Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục và thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lp; cho phép hoạt động giáo dục, đình ch hoạt động giáo dục;p nhập, chia, tách, giải thể nhà trưng được quy định tại c Điều 51, Điều 52, Điều 53 và Điều 54 của Luật này.

  1. 55. lệ nhà trường

1. Nhà trường được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và điều lệ nhà trường.

2. Điều l nhà trường phải có những nội dung chyếu sau đây:

a) Nhiệm vvà quyền hạn của nhà trường;

b) Tổ chức các hoạt động go dục trong nhà trường;

c) Nhiệm vvà quyền ca nhà giáo;

d) Nhiệm vvà quyền ca người học;

đ) T chức và quản lý nhà trưng;

e) Tài chính và tài sản của nhà trường;

g) Quan hgiữa nhà trưng, gia đình và xã hội.

 3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành điều lệ nhà trường đối với các cấp học và trình độ đào tạo theo thẩm quyền.

  1. 56. Hội đồng trường

1. Hội đồng trường của trường công lập là cơ quan quản trị nhà trường, thực hiện quyền đại diện cho quyền sở hữu nhà nước và các bên có lợi ích liên quan.

a) Hội đồng trường đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông quyết định về phương hướng hoạt động của nhà trường, huy động và giám sát việc sử dụng các nguồn lực dành cho nhà trường, gắn nhà trường với cộng đồng và xã hội, bảo đảm thực hiện mục tiêu giáo dục.

Thành phần Hội đồng trường đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông gồm có: bí thư cấp ủy, hiệu trưởng nhà trường, chủ tịch Công đoàn, bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, đại diện các tổ chuyên môn, đại diện tổ Văn phòng, đại diện chính quyền địa phương, ban đại diện cha mẹ học sinh và đại diện học sinh đối với trung học cơ sở, trung học phổ thông.

b) Hội đồng trường đối với giáo dục đại học được thực hiện quy định của Luật Giáo dục đại học;

c) Hội đồng trường, hội đồng quản trị đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp.

2. Hội đồng trường của trường mầm non dân lập là tổ chức đại diện quyền sở hữu của nhà trường do cộng đồng dân cư thành lập trường đề cử; chịu trách nhiệm quyết định phương hướng hoạt động, quy hoạch, kế hoạch phát triển, tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản, bảo đảm thực hiện mục tiêu giáo dục, phù hợp với quy định của pháp luật.

Thành phần tham gia hội đồng trường gồm có: đại diện cộng đồng dân cư, đại diện chính quyền ở cơ sở và người góp vốn xây dựng, duy trì hoạt động của trường.

3. Hội đồng trường của trường tư thục và tư thục hoạt động không vì lợi nhuận tổ chức quản trị, đại diện cho nhà đầu tư và các bên có lợi ích liên quan. Thành viên của hội đồng trường bao gồm:

a) Đối với trường tư thục, bao gồm đại diện nhà đầu tư, thành viên trong và ngoài trường do hội nghị nhà đầu tư bầu, quyết định theo tỷ lệ vốn góp;

b) Đối với trường tư thục hoạt động không vì lợi nhuận, bao gồm đại diện nhà đầu tư do các nhà đầu tư bầu, quyết định theo tỷ lệ vốn góp; thành viên trong và ngoài trường;

Thành viên trong trường gồm có các thành viên đương nhiên là bí thư cấp ủy, chủ tịch công đoàn, đại diện ban chấp hành đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là người học của trường (nếu có), hiệu trưởng; thành viên bầu là đại diện giáo viên và người lao động do hội nghị toàn thể hoặc hội nghị đại biểu của trường bầu;

Thành viên ngoài trường là đại diện lãnh đạo nhà quản lý, nhà giáo dục, doanh nhân, cựu học sinh do hội nghị toàn thể hoặc hội nghị đại biểu của trường bầu;

c) Số lượng và cơ cấu thành viên hội đồng trường tư thục và trường tư thục hoạt động không vì lợi nhuận được quy định cụ thể trong quy chế tổ chức và hoạt động của trường.

4. Hội đồng trường của trường có vốn đầu tư nước ngoài và trường có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động không vì lợi nhuận là cơ quan quản trị nhà trường, đại diện cho nhà đầu tư và các bên có lợi ích liên quan, có nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 3 Điều này.

5. Thủ tục thành lập, cơ cấu tổ chức, quyền hạn và nhiệm vụ của hội đồng trường của trường mầm non, phổ thông được quy định cụ thể trong điều lệ nhà trường.

  1. 57. Hiệu trưởng

1. Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý, điều hànhc hoạt động của nhà trường, do cơ quan có thẩm quyền b nhiệm hoặc công nhận.

2. Hiệu trưởng các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân phải được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý trường học và đạt chuẩn hiệu trưởng.

3. Tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quyền hạn hiệu trưởng; thủ tục, quy trình bổ nhiệm hiệu trưởng các cơ sở giáo dục tuân thủ theo Luật này, Luật Giáo dục nghề nghiệp và Luật Giáo dục đại học.

4. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo thẩm quyền ban hành các quy định tại khoản 3 điều này. 

  1. 58. Hội đồng tư vấn trong nhà trường

Hội đồng tư vấn trong nhà trường do Hiệu trưởng thành lập đ lấy ý kiến của cán b qun lý, n giáo, đại din các tổ chức trong n tờng nhằm thực hiện một s nhiệm v thuộc trách nhiệm và quyền hạn của Hiệu trưng. Tchức và hoạt động củac hội đồng tư vấn được quy định trong điều l nhà trường.

  1. 59. Tổ chức Đảng trong nhà trường

T chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong nhà trường lãnh đạo nhà trường và hoạt động trong khuôn kh Hiến pháp.

  1. 60. Đoàn thể, tổ chức xã hội trong nhà trường

Đoàn thể, t chức xã hội trong nhà trưng hoạt động theo quy định của pháp luật và có trách nhiệmp phần thực hiện mục tiêu giáo dục theo quy định của Luật này.

  1. 61. Nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường

1. Nhà trường có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

a) Công bố công khai mục tiêu, chương trình, kế hoạch giáo dục, các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục, kết quả đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục; hệ thống văn bằng, chứng chỉ của nhà trường;

b) Tổ chức tuyển sinh, chăm sóc, giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao kết quả đào tạo và nghiên cứu khoa học phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; xác nhận hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ theo thẩm quyền;

c) Tham gia tuyển dụng nhà giáo; quản lý, sử dụng nhà giáo, nhân viên và quản lý người học;

d) Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật; xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa;

đ) Phối hợp với gia đình người học, tổ chức, cá nhân trong hoạt động giáo dục; tổ chức cho nhà giáo, nhân viên và người học tham gia các hoạt động xã hội, phục vụ cộng đồng;

e) Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

2. Việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính của trường công lập được thực hiện như sau:

a) Cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông thực hiện quy chế dân chủ trong nhà trường; có trách nhiệm giải trình với xã hội, người học, cơ quan quản lý; bảo đảm việc tham gia của người học, gia đình người học và xã hội trong quản lý nhà trường;

Chính phủ quy định cụ thể về quản lý trong cơ sở giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông công lập;

b) Cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học thực hiện quyền tự chủ, trách nhiệm giải trình theo quy định cụ thể tại Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục đại học và quy định khác của pháp luật có liên quan.

3. Trường dân lập, tư thục tự chủ và tự chịu trách nhiệm về quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường, tổ chức các hoạt động giáo dục, xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo, huy động, sử dụng và quản lý các nguồn lực để thực hiện mục tiêu giáo dục.

 

Mục 2

TRƯỜNG CHUYÊN BIỆT VÀ CƠ S GIÁO DỤC KHÁC

 

Điều 62. Trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường dự bị đại học

1. Nhà nước thành lập trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường dự bị đại học cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

2. Trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường dự bị đại học được ưu tiên bố trí giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị và ngân sách.

3. Chính phủ quy định điều kiện học sinh được học trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường dự bị đại học.

Điều 63. Trường chuyên, trưng năng khiếu

1. Trường chuyên được thành lập ở cấp trung học phổ thông dành cho học sinh đạt kết quả xuất sắc trong học tập nhằm phát triển năng khiếu của các em về một số môn học trên cơ sở bảo đảm giáo dục phổ thông toàn diện, tạo nguồn đào tạo nhân tài, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.

Trưng năng khiếu nghthuật, thdục, ththao được thành lập nhằm phát triểni năng của học sinh trong các lĩnh vực này.

2. Nhà nước ưu tiên bố trí giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị và ngân sách cho trường chuyên, trường năng khiếu do Nhà nước thành lập; có chính sách ưu đãi đối với trường năng khiếu do tổ chức, cá nhân thành lập.

3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo thẩm quyền phối hợp với B trưởng, Th trưng cơ quan ngang b có liên quan quy định chương trình giáo dục nâng cao; quy chế tổ chức và hoạt động cho trường chuyên, trường năng khiếu.

Điều 64. Trường, lớp dành cho người khuyết tật

1. Nhà nước thành lập và khuyến khích tổ chức, cá nhân thành lập trường, lớp dành cho người khuyết tật nhằm giúp đối tượng này được phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề và hòa nhập với cộng đồng.

2. Nhà nước ưu tiên bố trí giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị và ngân sách cho trường, lớp dành cho người khuyết tật do Nhà nước thành lập; có chính sách ưu đãi đối với trường, lớp dành cho người khuyết tật do tổ chức, cá nhân thành lập.

Điều 65. Trường giáo dưỡng

1. Trường giáo dưỡng có nhiệm vụ giáo dục người chưa thành niên vi phạm pháp luật để các đối tượng này rèn luyện, phát triển lành mạnh, trở thành người lương thiện, có khả năng tái hòa nhập vào đời sống xã hội.

2. Bộ trưởng Bộ Công an có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chương trình giáo dục cho trường giáo dưỡng.

Điều 66. Các cơ s giáo dục khác

1. Cơ sở giáo dục khác thuộc hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:

a) Nhóm trẻ độc lập, lớp mẫu giáo độc lập, lớp mầm non độc lập; lớp xóa mù chữ, lớp ngoại ngữ, lớp tin học, lớp dành cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn không có điều kiện đi học ở trường, lớp dành cho trẻ khuyết tật;

b) Trung tâm giáo dục thường xuyên; trung tâm giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên; trung tâm học tập cộng đồng; trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập; các trung tâm khác thực hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên;

c) Viện Hàn lâm, viện do Thủ tướng Chính phủ thành lập theo quy định của Luật Khoa học và công nghệ được phép đào tạo trình độ tiến sĩ.

2. Người đứng đầu cơ sở giáo dục khác chịu trách nhiệm về chất lượng giáo dục, quản lý, điều hành cơ sở giáo dục theo quy định của pháp luật.

3. Chính phủ quy định cụ thể điều kiện, thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, sáp nhập, chia, tách, giải thể, đình chỉ hoạt động giáo dục tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều này; Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo thẩm quyền ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục khác quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều này.

Chương IV

NHÀ GIÁO

Mục 1

VỊ TRÍ, VAI TRÒ, TIÊU CHUẨN CỦA NHÀ GIÁO

 

Điều 67. Vị trí, vai trò của nhà giáo

1. Nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác trừ cơ sở giáo dục quy định tại điểm c khoản 1 Điều 66 của Luật này.

Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục khác, giảng dạy trình độ sơ cấp, trung cấp gọi là giáo viên; nhà giáo giảng dạy từ trình độ cao đẳng trở lên gọi là giảng viên.

2. Nhà giáo có vai trò quyết định bảo đảm chất lượng giáo dục, có vị thế quan trọng trong xã hội, được xã hội tôn vinh.

Điều 68. Tiêu chuẩn Nhà giáo

1. Có phẩm chất, tư tưởng, đạo đức tốt.

2. Đạt trình đchuẩn được đào tạo vchuyên môn, nghiệp vụ; có kỹ năng cập nhật, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ.

3. Bảo đảm sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp.

4. Đáp ứng chuẩn nghề nghiệp và vị trí việc làm.

Điều 69. Giáo, phó giáo

Giáo sư, phó giáo sư là chức danh của nhà giáo đang giảng dạy, nghiên cứu khoa học ở cơ sở giáo dục đại học đáp ứng tiêu chuẩn giáo sư, phó giáo sư do cơ sở giáo dục đại học bổ nhiệm.

Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư.

 

Mục 2

NHIỆM V VÀ QUYỀN CỦA NHÀ GIÁO

 

Điều 70. Nhiệm vcủa nhà giáo

1. Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ và có chất lượng chương trình giáo dục.

2. Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, điều lệ nhà trường; quy tắc ứng xử của nhà giáo.

3. Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng, đối xử công bằng với người học; bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học.

4. Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt cho người học.

5. Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.

Điều 71. Quyền của nhà giáo

1. Được giảng dạy theo chuyên môn đào tạo.

2. Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ.

3. Được hợp đồng thỉnh giảng,nghiên cứu khoa học tạic trưng, cơ sgiáo dục khác hoặc cơ s nghiên cứu khoa học với điều kiện bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ nơi mình công tác.

4. Được bảo v nhân phẩm, danh dự.

5. Được nghỉ hè theo quy định của Chính phủ và các ngày nghỉ khác theo quy định của pháp luật.

6. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Điều 72. Thỉnh giảng

1. Thỉnh giảng là việc một cơ sở giáo dục mời người có đủ tiêu chuẩn quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 68 của Luật này đến giảng dạy. Người được cơ sở giáo dục mời giảng dạy được gọi là giáo viên thỉnh giảng hoặc giảng viên thỉnh giảng.

2. Giáo viên, giảng viên thỉnh giảng phải thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Điều 70 của Luật này. Giáo viên, giảng viên thỉnh giảng là công chức, viên chức phải bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ nơi mình công tác.

3. Khuyến khích việc mời nhà giáo, nhà khoa học trong nước, nhà khoa học là người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài đến giảng dạy tại các cơ sở giáo dục theo chế độ thỉnh giảng.

Mục 3

 ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG NHÀ GIÁO

 

Điều 73. Trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo

1. Trình đchuẩn được đào tạo của nhà giáo được quy định như sau:

a) Có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm đối với giáo viên mầm non;

b) Có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm đối với giáo viên tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông. Đối với môn học chưa đủ giáo viên được đào tạo trình độ đại học sư phạm thì có bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành phù hợp và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm.

c) Có bằng thạc sĩ và có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm đối với nhà giáo giảng dạy trình độ đại học; có bằng tiến sĩ với nhà giáo giảng dạy, hướng dẫn luận văn thạc sĩ, hướng dẫn luận án tiến sĩ.

d) Trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp.

2. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo thẩm quyền quy định việc sử dụng nhà giáo trong trường hợp không đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều này.

Điều 74. Đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo

Nhà nước có chính sách đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho nhà giáo; nhà giáo được cử đi đào tạo, bồi dưỡng được hưởng lương và phụ cấp theo quy định của Chính phủ.

Các cơ sở giáo dục có trách nhiệm tạo điều kiện để nhà giáo được đào tạo, bồi dưỡng đạt chuẩn theo quy định của Luật này.

Điều 75. Cơ sở giáo dục thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

1. s giáo dục thực hiện nhiệm v đào to, bồi dưỡng nhà giáo bao gồm trưng sư phạm, cơ s giáo dục có khoa sư phạm, cơ s giáo dục được phép đào to, bồing nhà giáo.

2. Trường sư phạm do Nhà nước thành lập đ đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán b quản lý giáo dục. Trưng sư phạm được ưu tiên trong việc tuyển dụng nhà giáo, b trí cán b quản, đầu tưy dựng s vật chất, kýc xá và bảo đm kinh phí đào tạo. Trường sư phạm có trường thực hành hoặc cơ s thực hành.

3. s giáo dục thực hiện nhiệm v đào tạo, bồing cán b quản lý giáo dục bao gồm cơ sgiáo dục đại học có khoa quản lý giáo dục, s giáo dục được phép đào tạo, bồi dưỡng cán b quản lý giáo dục.

4. Việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo quy định của pháp luật.

Mục 4

CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NHÀ GIÁO

 

Điều 76. Ngày Nhà giáo Việt Nam

Ngày 20 tháng 11 hằng năm là ngày Nhà giáo Việt Nam.

Điều 77. Tiền lương

Nhà giáo được xếp lương phù hợp với vị trí việc làm và lao động nghề nghiệp; được ưu tiên hưởng phụ cấp đặc thù nghề theo quy định của Chính phủ.

Điều 78. Chính sách đối với nhà giáo

1. Nhà nước có chính sách tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ, bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện vai trò và nhiệm vụ của mình.

 2. Nhà giáo công tác tại trường chuyên, trường năng khiếu, trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường dự bị đại học, trường, lớp dành cho người khuyết tật, trường giáo dưỡng hoặc các trường chuyên biệt khác được hưởng chế độ phụ cấp và các chính sách ưu đãi.

3. Nhà nước có chính sách khuyến khích và ưu đãi nhà giáo công tác tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; được hưởng chế độ phụ cấp và các chính sách ưu đãi.  

4. Chính phủ quy định chi tiết chính sách đối với nhà giáo tại Điều này.

Chương V

NGƯỜI HỌC

Mục 1

NHIỆM V VÀ QUYỀN CỦA NGƯỜI HỌC

 

Điều 79. Người học

1. Người học là người đang học tập tại cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân. Người học bao gồm:

a) Trẻ em của cơ sở giáo dục mầm non;

b) Học sinh của cơ sở giáo dục phổ thông, lớp đào tạo nghề, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên, trường trung cấp, trường dự bị đại học;

c) Sinh viên của trường cao đẳng, trường đại học;

d) Học viên của cơ sở đào tạo thạc sĩ;

đ) Nghiên cứu sinh của cơ sở đào tạo tiến sĩ;

e) Học viên theo học chương trình giáo dục thường xuyên.

2. Những quy định trong khoản 1 Điều 22 và các Điều 81, 82, 83, 84, 85, 86 của Luật này chỉ áp dụng cho người học quy định tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1 Điều này.

Điều 80. Quyền của trẻ em và chính sách đối với trẻ em tại cơ sở giáo dục mầm non

1. Trẻ em tại cơ sở giáo dục mầm non có những quyền sau đây:

a) Được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo Chương trình giáo dục mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành và được bảo vệ theo Luật trẻ em;

b) Được chăm sóc sức khỏe ban đầu;

c) Được giảm phí đối với các dịch vụ vui chơi, giải trí công cộng.

2. Chính phủ quy định các chính sách đối với trẻ em tại cơ sở giáo dục mầm non.

Điều 81. Nhiệm vcủa người học

1. Học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường, cơ sở giáo dục khác.

2. Tôn trọng nhà giáo, cán bộ và nhân viên của nhà trường, cơ sở giáo dục khác; đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, rèn luyện; thực hiện nội quy, điều lệ nhà trường; chấp hành pháp luật của Nhà nước.

3. Tham gia lao động và hoạt động xã hội, hoạt động bảo vệ môi trường phù hợp với lứa tuổi, sức khỏe và năng lực.

4. Giữ gìn, bảo vệ tài sản của nhà trường, cơ sở giáo dục khác.

5. Góp phần xây dựng, bảo vệ và phát huy truyền thống của nhà trường, cơ sở giáo dục khác.

Điều 82. Quyền của người học

1. Được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân.

2. Được tôn trọng; bình đẳng về cơ hội học tập và giáo dục; được phát triển tài năng, năng khiếu, sáng tạo, phát minh; được cung cấp đầy đủ thông tin về việc học tập, rèn luyện của mình.

3. Được học vượt lớp, học rút ngắn thời gian thực hiện chương trình, học ở tuổi caon tuổi quy định, họco i thời gian, học u ban; được tạo điều kiện để theo học các chương trình giáo dục, đào tạo theo quy định của nhà nước.

4. Được học tập trong môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh.

5. Được cpn bằng, chứng ch, giấy xác nhận sau khi tốt nghiệp cấp học, trình đ đào tạo và hoàn thành chương trình giáo dục theo quy định.

6. Được tham gia hot động của các đoàn thể, tổ chức hội trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác theo quy định của pháp luật.

7. Được s dụng cơ sở vật chất, thư viện, trang thiết bị, phương tiện phục vc hoạt động học tập, văn hóa, thdục, th thao của nhà trường, sgiáo dục khác.

8. Được trc tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp ca mình kiến ngh với nhà trưng, s giáo dục khác các giải pháp góp phn xây dựng nhà trường, bảo vquyền, lợi ích chính đáng của người học.

9. Được hưởng chính sách ưu tiên của Nhà nước trong tuyển dụngoc cơ quan nhà ớc nếu tốt nghiệp loại giỏi và có đạo đức tốt.

10. Được cử người đại diện hợp pháp tham gia hội đồng trường theo quy định.

 

Mục 2

CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI HỌC

 

Điều 83. Tín dng giáo dục

Nhà nước có chính sáchn dụng ưu đãi vi suất, điều kiện và thời hạn vay tiền đngười học có điều kiện học tập. Khuyến khích xã hội hóa hoạt động tín dụng giáo dục.

Điều 84. Học bổng, trợ cấp xã hội, tín dụng sư phạm

1. Nhà nước có chính sách cấp học bổng khuyến khích học tập cho học sinh đạt kết quả học tập xuất sắc ở trường chuyên, trường năng khiếu quy định tại Điều 62 của Luật này và người học có kết quả học tập, rèn luyện từ loại khá trở lên ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học; cấp học bổng chính sách cho sinh viên hệ cử tuyển, học sinh trường dự bị đại học, trường phổ thông dân tộc nội trú, cơ sở giáo dục nghề nghiệpdành cho thương binh, người khuyết tật.

2. Nhàớc có chính sách tr cp và miễn, giảm học phí cho người học là đối tưng được hưởng chính sách xã hội, ngườin tộc thiểu s vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trẻ mi khôngiơng tựa, người khuyết tật có khó khăn v kinh tế, người thuộc hộ nghèo và cận nghèo.

3. Nhà ớc khuyến khích tổ chức, cá nhân cấp học bổng hoặc trợ cp cho người học theo quy định của pháp luật.

4. Học sinh, sinh viên sư phạm được vay tín dụng sư phạm bao gồm học phí và sinh hoạt phí trong toàn khóa học; người vay tín dụng sư phạm sau khi tốt nghiệp công tác trong ngành giáo dục đủ thời gian quy định không phải trả khoản vay tín dụng sư phạm. Trường hợp học sinh, sinh viên sư phạm không có nhu cầu sử dụng tín dụng sư phạm, nhưng ra trường vẫn làm trong ngành giáo dục đủ thời gian theo quy định sẽ được hưởng khoản tín dụng sư phạm mà học sinh, sinh viên sư phạm đã được hưởng.

Học sinh, sinh viên sư phạm được hưởng các chính sách học bổng khuyến khích học tập, các chế độ miễn, giảm học phí và trợ cấp xã hội quy định tại các khoản 1, khoản 2 Điều này.

5. Chính phủ quy định cụ thể chính sách học bổng, trợ cấp và miễn giảm học phí, tín dụng sư phạm đối với học sinh, sinh viên sư phạm tại Điều này.

Điều 85. Min, giảm phí dịch vcông cộng cho học sinh, sinh viên

Học sinh, sinh viên được hưởng chế đmin, giảm phí khi s dụng các dịch vụ công cộng v giao thông, giải trí, khi tham quan viện bảo tàng, di tích lịch sử, công trình n a theo quy định của Chính phủ.

Điều 86. Chế độ cử tuyển

1. Nhà nước thực hiện tuyển sinh vào trung cấp, cao đẳng, đại học theo chế độ cử tuyển đối với học sinh các dân tộc thiểu số rất ít người; học sinh dân tộc thiểu số vùng điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn chưa có hoặc có rất ít cán bộ, công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số; chính sách tạo nguồn cử tuyển và tạo điều kiện thuận lợi để các đối tượng này vào học trường phổ thôngn tộc nội trú và tăng thời gian học d b đại học.

2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào nhu cầu của địa phương đề xuất, phân bổ chỉ tiêu cử tuyển; cử người đi học theo tiêu chuẩn, chỉ tiêu được duyệt; xét tuyển và bố trí việc làm cho người học sau khi tốt nghiệp.

Cơ sở giáo dục có trách nhiệm hỗ trợ cho người đi học theo chế độ cử tuyển để bảo đảm chất lượng đầu ra.

3. Người học theo chế độ cử tuyển có trách nhiệm trở về làm việc tại địa phương nơi cử đi học; được xét tuyển và bố trí việc làm.

4. Chính phủ quy định cụ thể tiêu chuẩn và đối tượng được hưởng chế độ cử tuyển; việc tổ chức thực hiện chế độ cử tuyển và việc tuyển dụng người học theo chế độ cử tuyển sau khi tốt nghiệp.

 

Chương VI

TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI

 

Điều 87. Trách nhiệm của nhà trường

1. Nhà trường có trách nhiệm thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục; chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để tổ chức hoặc tham gia các hoạt động giáo dục theo kế hoạch của nhà trường, bảo đảm an toàn cho người dạy và người học; thông báo về kết quả học tập, rèn luyện của học sinh cho cha mẹ hoặc người giám hộ.

2. Cơ sở giáo dục khác được áp dụng các quy định có liên quan đến nhà trường trong Chương này .

Điều 88. Tch nhim của gia đình

1. Cha mẹ hoặc người giám hộ có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc, tạo điều kiện cho con em hoặc người được giám hộ được học tập, đạt trình độ giáo dục phổ cập, rèn luyện, tham gia các hoạt động của nhà trường; tôn trọng nhà giáo, không được xúc phạm danh dự, nhân phẩm thân thể nhà giáo.

Cha mẹ hoặc người giám hộ có trách nhiệm tạo điều kiện cho trẻ em hoàn thành chương trình giáo dục bắt buộc theo quy định.  

2. Mọi người trong gia đình có trách nhiệm xây dựng gia đình văn hóa, tạo môi trưng thuận lợi cho việc phát triển toàn diện v đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ của con em; người lớn tuổi có trách nhiệm giáo dục,mơng cho con em, cùng nhà trường nâng cao chất lượng, hiệu qugiáo dục.

Điều 89. Trách nhiệm của cha m hoặc người giám h của học sinh

1. Tiếp nhận thông tin về kết quả học tập, rèn luyện của con em hoặc người được giám hộ.

2. Tham gia các hoạt động giáo dục theo kế hoạch của nhà trường; tham gia các hoạt động của cha mẹ học sinh trong nhà trường.

3. Phối hợp với nhà trường, cơ quan quản lý giáo dục giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc giáo dục con em hoặc người được giám hộ theo quy định.

Điều 90. Ban đại diện cha mẹ học sinh, trẻ mầm non

1. Ban đại diện cha mẹ học sinh, trẻ mầm non được tổ chức trong mỗi năm học ở giáo dục phổ thông và giáo dục mầm non, do cha mẹ hoặc người giám hộ học sinh, trẻ mầm non từng lớp, từng trường cử ra để phối hợp với nhà trường trong việc chăm sóc, giáo dục học sinh và trẻ mầm non.

2. Không tổ chức ban đại diện cha mẹ học sinh, trẻ mầm non liên trường và ở các cấp hành chính. Ban đại diện cha mẹ học sinh, trẻ mầm non hoạt động theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Điều 91. Trách nhiệm của xã hội

1. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân có trách nhiệm sau đây:

a) Giúp nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục và nghiên cứu khoa học; tạo điều kiện cho nhà giáo và người học tham quan, hoạt động trải nghiệm, thực tập, nghiên cứu khoa học;

b) Góp phần xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn, ngăn chặn những hoạt động có ảnh hưởng xấu đến người học;

c) Tạo điều kiện để mọi công dân trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập; để người học được vui chơi, hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao lành mạnh;

d) Hỗ trợ về tài lực, vật lực cho sự nghiệp phát triển giáo dục theo khả năng của mình.

2. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm động viên toàn dân chăm lo cho sự nghiệp giáo dục.

3. Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh có trách nhiệm phối hợp với nhà trường giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; vận động đoàn viên, thanh niên gương mẫu trong học tập, rèn luyện và tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục.

Điều 92. Quỹ khuyến hc, Qu bảo trợ giáo dục

Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân thành lập Quỹ khuyến học, Quỹ bảo trợ giáo dục. Quỹ khuyến học, Quỹ bảo trợ giáo dục hoạt động theo quy định của pháp luật.

 

CHƯƠNG VII

ĐẦU TƯ VÀ TÀI CHÍNH TRONG GIÁO DỤC

 

Điều 93. Các nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục

Các nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục bao gồm:

1. Ngân sách nhà nước.

2. Nguồn vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.

3. Các nguồn thu từ dịch vụ giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ; các dịch vụ phục vụ, hỗ trợ hoạt động giáo dục của nhà trường; nguồn thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh; lãi tiền gửi ngân hàng và nguồn thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

4. Kinh phí đặt hàng, giao nhiệm vụ của Nhà nước.

5. Nguồn vốn vay.

 6. Các nguồn tài trợ, viện trợ, cho, biếu, tặng của các cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài.

Điều 94. Ngânch nhà nước đầu tư cho giáo dục

1. Nhà nước dành ưu tiên hàng đầu cho việc bố trí ngân sách giáo dục, bảo đảm ngân sách nhà nước chi cho giáo dục tối thiểu 20% tổng chi ngân sách nhà nước.

2. Ngân sách nhà nước chi cho giáo dục được phân bổ theo nguyên tắc công khai, dân chủ; căn cứ vào quy mô giáo dục, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng; đảm bảo ngân sách để thực hiện phổ cập giáo dục, phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Nhà nước có trách nhiệm bố trí kinh phí đầy đủ, kịp thời để thực hiện phổ cập giáo dục và phù hợp với tiến độ của năm học.

Cơ quan quản lý giáo dục, cơ sở giáo dục có trách nhiệm quản lý, sử dụng có hiệu quả phần ngân sách giáo dục được giao và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật.

Điều 95. Ưu tiên đầu tư tài cnh và đất đaiy dựng trường học

Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm đưa việc xây dựng trường học, các công trình thể dục, thể thao, văn hóa, nghệ thuật phục vụ giáo dục vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của ngành và địa phương; ưu tiên đầu tư tài chính và đất đai cho việc xây dựng trường học và ký túc xá cho học sinh, sinh viên trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

Điều 96. Khuyến khích đầu tư cho giáo dục

1. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân đầu tư, đóng góp trí tuệ, công sức, tài sản cho giáo dục.

2. Các khoản đầu, đóng góp,i tr ca doanh nghiệp cho giáo dục và các chi phí của doanh nghiệp đmtrưng, lớp đào tạo tại doanh nghiệp, phối hợp đào tạo với cơ s giáo dục, c người đi đào tạo, tiếp thu công ngh mới phục v cho nhu cầu của doanh nghiệp làc khoản chi phí hợp, được tr khi tính thu nhập chịu thuế theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.

3.c khoản đóng góp,i tr của cá nhân cho giáo dục được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế thu nhập cá nhân của đối tượng nộp thuế.

4. T chức, cá nhân đầu tưy dựng công trình phục v cho giáo dục; đóng góp,i trợ, ủng h tiền hoặc hiện vật đ phát triển s nghiệp giáo dục được xem xét đ ghi nhận bng hình thức thích hợp.

5. Không được lợi dụng việc tài trợ, ủng hộ cho giáo dục để ép buộc đóng góp tiền hoặc hiện vật.

Điều 97. Học phí, dịch vụ tuyển sinh

1. Học phí là khoản tiền người học phải nộp để chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí của dịch vụ giáo dục, đào tạo. Mức thu học phí được xác định theo lộ trình tính đúng, tính đủ chi phí dịch vụ giáo dục, đào tạo do Chính phủ quy định. Đối với các cơ sở giáo dục đại học thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục đại học.

2. Chi phí của dịch vụ giáo dục, đào tạo bao gồm toàn bộ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp, chi phí quản lý, chi phí khấu hao tài sản cố định phục vụ trực tiếp và gián tiếp hoạt động giáo dục, đào tạo theo chương trình giáo dục đào tạo.

Mức thu dịch vụ tuyển sinh mà người dự tuyển phải nộp khi tham gia xét tuyển, thi tuyển sinh được xác định theo lộ trình tính đúng, tính đủ.

3. Trẻ em mầm non năm tuổi, học sinh tiểu học trong cơ sở giáo dục công lập không phải nộp học phí; ở địa bàn không đủ trường công lập, trẻ em mầm non năm tuổi, học sinh tiểu học trong cơ sở giáo dục dân lập, tư thục được Nhà nước hỗ trợ tiền nộp học phí theo mức hỗ trợ do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định.

4. Học sinh trung học cơ sở trong cơ sở giáo dục công lập không phải nộp học phí theo lộ trình do Chính phủ quy định.

5. Chính phủ quy định cơ chế thu và sử dụng học phí đối với các cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông công lập.

Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định khung học phí hoặc mức học phí cụ thể, các khoản thu dịch vụ phục vụ, hỗ trợ hoạt động giáo dục của nhà trường đối với các cơ sở giáo dục công lập theo thẩm quyền quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo trên cơ sở đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cơ chế thu và sử dụng mức thu dịch vụ tuyển sinh các cấp học do địa phương quản lý sau khi được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua.

Cơ sở giáo dục dân lập, tư thục được quyền chủ động xây dựng mức thu học phí và các dịch vụ khác bảo đảm bù đắp chi phí và có tích lũy hợp lý. Thực hiện công khai chi phí đào tạo và mức thu theo cam kết trong đề án thành lập trường, công khai cho từng khóa học, cấp học, từng năm học theo quy định.

Điều 98. Ưu đãi về thuế đối với sách giáo khoa và tài liệu, thiết bị dạy học

Nhà nước có chính sách ưu đãi về thuế đối với việc xuất bản sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu dạy học; sản xuất và cung ứng thiết bị dạy học, đồ chơi cho trẻ em trong cơ sở giáo dục mầm non; nhập khẩu sách, báo, tài liệu, thiết bị dạy học, thiết bị nghiên cứu dùng trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác.

Điều 99. Chế độ tài chính đối với cơ sở giáo dục

1. Cơ sở giáo dục công lập thực hiện quản lý các khoản thu, chi tài chính, quản lý sử dụng tài sản theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và Luật Quản lý sử dụng tài sản công. Thực hiện chế độ kế toán, kiểm toán, thuế và công khai tài chính theo quy định của pháp luật.

2. Cơ sở giáo dục dân lập, tư thục hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính, thực hiện chế độ kế toán, kiểm toán, thuế, định giá tài sản và công khai tài chính theo quy định của pháp luật. Khoản thu của cơ sở giáo dục dân lập, tư thục được dùng để chi cho các hoạt động của nhà trường, thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước, thiết lập quỹ đầu tư phát triển và các quỹ khác của nhà trường, phần còn lại được phân chia cho các nhà đầu tư theo tỷ lệ vốn góp, trừ cơ sở giáo dục hoạt động không vì lợi nhuận.

3. Các cơ sở giáo dục phải công bố công khai chi phí đào tạo và mức thu phí cho từng năm học đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, cho từng năm học cùng với dự kiến cho cả khóa học đối với giáo dục đại học.

Điều 100. Quyền sở hữu tài sản, chuyển nhượng vốn đối với trường dân lập, tư thục

1. Tài sản trường dân lập, tư thục thuộc sở hữu của pháp nhân nhà trường.

Tài sản của trường dân lập, tư thục được Nhà nước bảo hộ theo quy định của pháp luật.

2. Tài sản thuộc sở hữu của trường tư thục được hình thành từ vốn góp của các thành viên, được xác định bằng biên bản góp vốn của các nhà đầu tư và ghi trong điều lệ nhà trường. 

Các nhà đầu tư có trách nhiệm chuyển quyền sở hữu phần tài sản góp vốn cho nhà trường theo quy định.

3. Việc chuyển nhượng vốn đối với trường dân lập, tư thục được thực hiện theo quy định của Chính phủ, bảo đảm sự ổn định và phát triển của nhà trường.

Điều 101. Chính sách ưu đãi đối với trường dân lập, tư thục

Trường dân lập, tư thục được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất, giao hoặc cho thuê cơ sở vật chất, hỗ trợ ngân sách khi thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao theo đơn đặt hàng, được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế và tín dụng; được Nhà nước bảo đảm kinh phí để thực hiện chính sách đối với người học quy định tại Điều 84 của Luật này.

Chính phủ quy định cụ thể chính sách ưu đãi đối với trường dân lập, tư thục.

 

Chương VIII

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC

Mục 1

NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC V GIÁO DỤC

VÀ CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC V GIÁO DỤC

 

Điều 102. Nội dung quản lý nhà nước v giáo dục

1. Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục; cơ sở giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, tiêu chuẩn cán bộ quản lý giáo dục, quy chế thi cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ; tập trung quản lý chất lượng giáo dục, công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra cơ sở giáo dục, thực hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục.

2. Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục bao gồm:

a) Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục;

b) Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; ban hành điều lệ nhà trường; điều lệ ban đại diện cha mẹ học sinh, ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục khác; quy định hoạt động dạy học và giáo dục trong và ngoài nhà trường; quy định về đánh giá rèn luyện, khen thưởng và kỷ luật đối với người học;

c) Quy định tiêu chuẩn chức danh, chế độ làm việc của nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; danh mục khung vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục; tiêu chuẩn người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu các cơ sở giáo dục; tiêu chuẩn chức danh giám đốc, phó giám đốc sở giáo dục và đào tạo, trưởng phòng, phó trưởng phòng giáo dục và đào tạo; chuẩn nghề nghiệp nhà giáo; ban hành quy tắc ứng xử của nhà giáo; quy định về điều kiện, tiêu chuẩn và hình thức tuyển dụng giáo viên;

d) Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục; khung trình độ quốc gia; tiêu chuẩn nhà giáo; tiêu chuẩn, định mức sử dụng cơ sở vật chất, thư viện và thiết bị trường học; việc biên soạn, sử dụng sách giáo khoa, giáo trình; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ; quy định về việc công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp được sử dụng tại Việt Nam;

đ) Tổ chức, quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng giáo dục;

e) Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo dục;

g)  Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục;

h) Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục;

i) Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục;

k) Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực giáo dục;

l) Tổ chức, quản lý công tác hợp tác quốc tế về giáo dục;

m) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục;

n) Các nội dung khác theo quy định của pháp luật.

Điều 103. quan qun nhà nước v giáo dục

1. Chính phthống nhất quản lý nhà nước v giáo dục.

Chính ph trình Quốc hội trước khi quyết định những ch trương lớn có nh hưởng đến quyền và nghĩa v học tập của côngn trong phạm vi c nước, những ch trương v cải cách nội dung chương trình của một cấp học; hng nămo cáo Quốc hội về hoạt động giáo dục và việc thực hiện ngân sách giáo dục; trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước khi quyết định việc áp dụng đại trà đối với chính sách mới trong giáo dục đã được thí điểm thành công mà việc áp dụng đại trà sẽ ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ học tập của công dân trong phạm vi cả nước.

2. Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học, trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm.

3. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp trừ trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm.

4. Bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp với các Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục theo sự phân công của Chính phủ.

5. Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục theo phân cấp của Chính phủ, trong đó có việc kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục của các cơ sở giáo dục trên địa bàn; có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện về đội ngũ nhà giáo, tài chính, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của các trường công lập thuộc phạm vi quản lý; phát triển các loại hình trường, thực hiện xã hội hóa giáo dục; bảo đảm đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục tại địa phương; thực hiện các chủ trương, chính sách của Nhà nước và các chính sách của địa phương để bảo đảm quyền tự chủ, trách nhiệm giải trình về thực hiện nhiệm vụ và chất lượng giáo dục của các cơ sở giáo dục thuộc phạm vi quản lý; chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện chiến lược, kế hoạch và quy hoạch phát triển giáo dục của địa phương.

 

Mục 2

HỢPC QUỐC T V GIÁO DỤC

 

Điều 104. Nguyên tắc hợp c quc tế về giáo dc

Nhàớc m rộng, phát triển hợpc quốc tế v giáo dục theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, ch quyền quốc gia, bình đẳng và c n cùng có lợi.

Điều 105. Khuyến khích hợp c v giáo dục với nước ngoài

1. Nhàớc khuyến khích và tạo điều kiện cho nhà trường, sgiáo dục khác của Việt Nam hợp tác vi tổ chức, cá nhân nước ngoài, ngưi Việt Nam định cư ớc ngoài trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học.

2. Nhàớc khuyến khích và tạo điều kiện cho côngn Việt Nam raớc ngoài giảng dạy, học tập, nghiên cứu, trao đổi học thuật theo hình thức tc hoặc bằng kinh phí do t chức, cá nhân trong nước cp hoặc do t chức, nhân nước ngoài i trợ.

3. Nhà nước dành ngân sách cử người có đ tiêu chuẩn v phẩm chất, đạo đức và trình đ đi học tập, nghiên cứu nước ngoài v những ngành ngh và lĩnh vực then chốt đphục v cho s nghiệpy dựng và bảo v T quốc.

4.Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể việc công dân Việt Nam ra nước ngoài giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học và trao đổi học thuật; việc hợp tác về giáo dục với tổ chức, cá nhân nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Điều 106. Khuyến khích hợp c về giáo dục với Việt Nam

1. Tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước Việt Nam khuyến khích, tạo điều kiện để giảng dạy, học tập, đầu tư, tài trợ, hợp tác, ứng dụng khoa học, chuyển giao công nghệ về giáo dục ở Việt Nam; được bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp theo pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

2. Hợp tác về giáo dục với Việt Nam phải bảo đảm giáo dục người học về nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân; tôn trọng bản sắc văn hóa dân tộc; thực hiện mục tiêu giáo dục, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phù hợp với mỗi cấp học, trình độ đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân; hoạt động giáo dục phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam.

3. Các hình thức hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục tại Việt Nam bao gồm:

a) Liên kết giáo dục, đào tạo;

b) Thành lập văn phòng đại diện;

c) Thành lập phân hiệu;

d) Thành lập cơ sở giáo dục;

đ) Các hình thức hợp tác, đầu tư khác.

4. Chính phủ quy định cụ thể về hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục.

Điều 107. Công nhận văn bằng nước ngoài

1. Văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp sử dụng tại Việt Nam được công nhận trong các trường hợp sau đây:

a) Văn bằng do cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục đại học ở nước ngoài cấp cho người học sau khi hoàn thành chương trình giáo dục bảo đảm chất lượng theo quy định của nước cấp bằng và được cơ quan có thẩm quyền về giáo dục của nước đó công nhận;

b) Văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài đang hoạt động hợp pháp tại nước khác nơi cơ sở giáo dục đặt trụ sở chính cấp cho người học, được cơ quan có thẩm quyền về giáo dục của hai nước cho phép mở phân hiệu hoặc thực hiện hợp tác, liên kết đào tạo và đáp ứng quy định tại điểm a khoản này;

c) Văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài hoạt động hợp pháp tại Việt Nam cấp, thực hiện hoạt động giáo dục theo quy định về hợp tác, đầu tư trong lĩnh vực giáo dục do Chính phủ ban hành, theo phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền và đáp ứng quy định tại điểm a khoản này.

2. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo theo thẩm quyền ký Điều ước quốc tế về tương đương văn bằng hoặc công nhận lẫn nhau về văn bằng với các nước, các tổ chức quốc tế và các chủ thể khác của pháp luật quốc tế; quy định cụ thể về điều kiện, tiêu chí đánh giá, trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận văn bằng; cung cấp thông tin về cơ sở giáo dục đại học bảo đảm chất lượng được nước sở tại công nhận.

Việc công nhận văn bằng giáo dục nghề nghiệp do nước ngoài cấp thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp.

Mục 3

KIỂM ĐỊNH CHT LƯỢNG GO DỤC

 

Điều 108. Mục tiêu, nguyên tắc, đối tượng kiểm định chất lượng giáo dục

1. Mục tiêu của kiểm định chất lượng giáo dục bao gồm:

a) Bảo đảm và nâng cao chất lượng giáo dục;

b) Xác nhận mức độ đáp ứng mục tiêu của cơ sở giáo dục hoặc chương trình đào tạo trong từng giai đoạn;

c) Làm căn cứ để cơ sở giáo dục giải trình với chủ sở hữu, cơ quan có thẩm quyền, các bên liên quan và xã hội về thực trạng chất lượng giáo dục, đào tạo;

d) Làm cơ sở cho người học lựa chọn cơ sở giáo dục, chương trình đào tạo,  cho nhà tuyển dụng lao động tuyển chọn nhân lực.

2. Việc kiểm định chất lượng giáo dục phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:

a) Độc lập, khách quan, đúng pháp luật;

b) Trung thực, công khai, minh bạch;

c) Bình đẳng, bắt buộc, định kỳ.

3. Đối tượng kiểm định chất lượng giáo dục bao gồm:

a) Cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo các trình độ đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp;

b) Cơ sở giáo dục đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên.

Điều 109. Nội dung quản lý nhà nước về kiểm định chất lưng go dục

1. Ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục; quy trình và chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục ở từng cấp học và trình độ đào tạo; nguyên tắc hoạt động, điều kiện và tiêu chuẩn của tổ chức, cá nhân hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục; cấp phép hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục; cấp, thu hồi giấy chứng nhận kiểm định chất lượng giáo dục.

2. Quản lý hoạt động kiểm định chương trình giáo dục và kiểm định cơ sở giáo dục.

3. Hướng dẫn các tổ chức, cá nhân và cơ sở giáo dục thực hiện đánh giá, kiểm định chất lượng giáo dục.

4. Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các quy định về kiểm định chất lượng giáo dục.

Điều 110. Tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục

1. Tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục bao gồm:

a) Tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục do Nhà nước thành lập;

b) Tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục do tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài thành lập;

c) Tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục của nước ngoài.

2. Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục thành lập, việc cho phép hoạt động, giải thể tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục; quy định trách nhiệm, quyền hạn của tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; quy định điều kiện và thủ tục để tổ chức kiểm định nước ngoài được công nhận hoạt động tại Việt Nam.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập, cho phép hoạt động, đình chỉ hoạt động, giải thể tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục; quy định trách nhiệm, quyền hạn của tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên; quyết định công nhận, thu hồi quyết định công nhận tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nước ngoài hoạt động ở Việt Nam; quy định việc giám sát, đánh giá tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục.

Việc kiểm định chất lượng giáo dục đối với giáo dục đại học thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục đại học; việc kiểm định chất lượng giáo dục đối với giáo dục nghề nghiệp thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp.

 

Mục 4

THANH TRA GIÁO DỤC

 

Điều 111. Mục đích của thanh tra giáo dục

Mục đích hoạt động thanh tra giáo dục nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật giáo dục để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về giáo dục; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực giáo dục.

Điều 112. Hoạt động thanh tra giáo dục

1. Thanh tra trong lĩnh vực giáo dục bao gồm thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành và thanh tra nội bộ của cơ sở giáo dục đại học.

Thanh tra hành chính trong lĩnh vực giáo dục là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về giáo dục; chính sách, pháp luật khác có liên quan và nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

Thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật về giáo dục, quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc lĩnh vực giáo dục.

2. Tổ chức và hoạt động của thanh tra trong lĩnh vực giáo dục thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra. Chính phủ quy định cụ thể nội dung này.

Chương IX

KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

 

Điều 113. Phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân n, Nhà giáo ưu tú

Nhà giáo, n bquản lý giáo dục, n bnghiên cứu giáo dục có đtiêu chuẩn theo quy định của pháp luật thì được Nhàớc phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú.

Điều 114. Khen thưởng đối với tổ chức, cá nhân có thành tích trong giáo dục

T chức, cá nhân thành tích đóngp cho s nghiệp giáo dục được khen thưởng theo quy định của pháp luật.

Điều 115. Khen thưởng đối với người học

Người học có thành tích trong học tập,n luyện được nhà trường, s giáo dục khác, quan quản lý giáo dục khen thưng; trường hợp có thành tích đặc biệt xuất sắc được khen thưởng theo quy định của pháp luật.

Điều 116. Phong tặng danh hiệu Tiến danh dự

Nhà hoạt động chính tr, xã hội có uyn quốc tế, nhà giáo, nhà khoa học là người Việt Nam định cư ớc ngoài, người nước ngoài đóngp nhiều cho s nghiệp giáo dục và khoa học của Việt Nam được trường đại học tặng danh hiệu Tiến sĩ danh d theo quy định của Chính phủ.

Điều 117. X lý vi phạm

1. Người nào có một trong các hành vi sau đây thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật:

a) Thành lập cơ sở giáo dục hoặc tổ chức hoạt động giáo dục trái phép;

b) Vi phạm các quy định về tổ chức, hoạt động của nhà trường, cơ sở giáo dục khác;

c) Tự ý thêm, bớt sn học, nội dung giảng dạy đã được quy định trong chương trình giáo dục;

d) Xuất bn, in, phát hành sách giáo khoa trái phép;

đ) Làm hồ sơ giả, vi phạm quy chế tuyển sinh, thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ;

e) Xâm phạm nhân phẩm, thân thể nhà giáo; phân biệt đối xử, ngược đãi, hành hạ người học;

g) Gây rối, làm mất an ninh, trật tự trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác;

h) Làm thất thoát kinh phí giáo dục; lợi dụng hoạt động giáo dục để thu tiền sai quy định;

i) Gây thiệt hại về cơ sở vật chất của nhà trường, cơ sở giáo dục khác;

k) Các hành vi khác vi phạm pháp luật về giáo dục.

2. Chính phủ quy định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục.

Chương X

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

 

Điều 118. Quy định chuyển tiếp

1. Chính phủ quy định lộ trình thực hiện đào tạo, bồi dưỡng, nâng chuẩn trình độ đào tạo của giáo viên mầm non, tiểu học, trung học cơ sở quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 73 của Luật này.

2. Học sinh, sinh viên sư phạm, người theo học các khóa đào tạo nghiệp vụ sư phạm được tuyển sinh trước thời điểm Luật này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục được áp dụng theo khoản 3 Điều 89 của Luật giáo dục số 38/2005/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 44/2009/QH12.

3. Ngưỡng đầu vào đối với ngành đào tạo giáo viên và ngành thuộc lĩnh vực sức khỏe có cấp chứng chỉ hành nghề thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật Giáo dục đại học số 34/2018/QH14.

Điều 119. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày     tháng    năm 2020.

2. Luật y thay thế Luật giáo dục m 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục năm 2009.

3. Sửa đổi, bổ sung điểm a, điểm b khoản 3 Điều 32 của Luật Giáo dục nghề nghiệp như sau:

“3. Các trường hợp được tuyển thẳng vào đào tạo ở trình độ cao đẳng bao gồm:

a) Người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc giấy chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông hoặc có giấy chứng nhận đủ yêu cầu khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông, có bằng tốt nghiệp trung cấp loại giỏi trở lên và đăng ký học cùng chuyên ngành hoặc nghề đào tạo;

b) Người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc có giấy chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông hoặc có giấy chứng nhận đủ yêu cầu khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông, có bằng tốt nghiệp trung cấp loại khá, đã có ít nhất 02 năm làm việc theo chuyên ngành hoặc nghề đã được đào tạo và đăng ký học cùng chuyên ngành hoặc nghề đào tạo”.

4. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 33 của Luật Giáo dục nghề nghiệp như sau:

“3. Thời gian đào tạo trình độ cao đẳng theo niên chế được thực hiện từ hai đến ba năm học tùy theo chuyên ngành hoặc nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông; từ một đến hai năm học tùy theo chuyên ngành hoặc nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng ngành, nghề đào tạo và có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc đã được cấp giấy chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông hoặc có giấy chứng nhận đủ yêu cầu khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông.

Thời gian đào tạo trình độ cao đẳng theo phương thức tích lũy mô-đun hoặc tín chỉ là thời gian tích lũy đủ số lượng mô - đun hoặc tín chỉ cho từng chương trình đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc đã được cấp giấy chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông hoặc có giấy chứng nhận đủ yêu cầu khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông”.

Điều 120. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành

Chính phủ có trách nhiệm quy định chi tiết các điều, khoản được giao trong Luật này./.  

 

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ  7  thông qua ngày     tháng 6 năm 2019.­­­­­­­­­­­

 

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

            

 

                                                                          Nguyễn Thị Kim Ngân

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Tài liệu tham khảo, không phải góp ý)

ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

 

Dự thảo 19/4/2019

Số:        /BC-UBTVQH14

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội, ngày      tháng 4 năm 2019

 

 

BÁO CÁO

Giải trình, tiếp thu, chỉnh lý Dự thảo Luật Giáo dục (sửa đổi)

 

Kính gửi: Các vị đại biểu Quốc hội,

 

Tại Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV, các đại biểu Quốc hội đã thảo luận, đóng góp ý kiến về Dự án Luật Giáo dục (sửa đổi). Sau kỳ họp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã chỉ đạo cơ quan thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ quan soạn thảo và các cơ quan, tổ chức hữu quan nghiên cứu, giải trình, tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội để chỉnh lý, hoàn thiện Dự thảo Luật. Tại các phiên họp lần thứ 31 và 32, UBTVQH đã cho ý kiến Báo cáo tổng hợp kết quả lấy ý kiến Nhân dân về Dự án Luật của Chính phủ (báo cáo kèm theo); xem xét, thảo luận về Dự thảo Báo cáo giải trình, tiếp thu và Dự thảo Luật đã được chỉnh lý. Tổ chức lấy ý kiến đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách (tháng 4/2019); gửi, tiếp thu ý kiến các Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội về Dự án Luật.

Sau đây, UBTVQH xin báo cáo với Quốc hội các nội dung giải trình, tiếp thu, chỉnh lý Dự thảo Luật Giáo dục (sửa đổi) như sau:  

PHẦN I. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ THẢO LUẬT

  1. Về triết lý giáo dục

Một số ý kiến đại biểu đề nghị quy định cụ thể về triết lý giáo dục trong Dự thảo Luật.

UBTVQH nhận thấy, triết lý giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xác định mục tiêu và định hướng trong triển khai, phát triển giáo dục của mỗi quốc gia. Thực tế Việt Nam không đi ngoài nguyên tắc này, từ lúc thành lập nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đến nay, nền giáo dục Việt Nam đã và đang vận động dưới sự dẫn dắt của một triết lý giáo dục được xây dựng, hình thành và phát triển qua các thời kỳ cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Triết lý này thể hiện rõ trong các quan điểm, định hướng của Đảng về phát triển giáo dục và được thể chế hóa thành các quy định về mục tiêu, tính chất, nguyên lý phát triển giáo dục trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục. Tham khảo luật giáo dục một số nước trên thế giới cho thấy, việc thể hiện tư tưởng triết lý giáo dục của các nước rất đa dạng, nhưng hầu hết các luật không quy định riêng về triết lý giáo dục mà chỉ thông qua những quy định về mục đích, sứ mệnh, mục tiêu và nguyên lý giáo dục.

Vì vậy, UBTVQH đề nghị không quy định triết lý giáo dục thành một điều khoản riêng mà thể hiện qua các quy định về mục tiêu, tính chất, nguyên lý và quan điểm phát triển giáo dục; đồng thời tinh thần triết lý giáo dục Việt Nam được thể hiện xuyên suốt trong các quy định của Luật này. Theo đó, Dự thảo Luật chỉnh sửa theo hướng sắp xếp lại kết cấu Chương I, bổ sung các quy định về mục tiêu (Điều 2), tính chất, nguyên lý (Điều 3) và định hướng phát triển giáo dục Việt Nam (Điều 4) cùng một số quy định khác của Dự thảo Luật.

  1. Về hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mở, liên thông

Nhiều đại biểu đề nghị quy định rõ hơn về Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và Khung trình độ quốc gia Việt Nam; làm rõ tính chất mở, liên thông, phân luồng và bổ sung chính sách, cơ chế để thực hiện phân luồng, liên thông; quy định chuẩn đầu vào đối với các ngành nghề đặc thù.

Tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật đã bổ sung quy định giao Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và Khung trình độ quốc gia Việt Nam. Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân cụ thể hóa các cấp học và trình độ đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân; Khung trình độ quốc gia Việt Nam quy định cấu trúc bậc trình độ và chuẩn đầu ra của các cấp học, trình độ đào tạo, thời gian đào tạo, tiêu chuẩn cho từng trình độ đào tạo, khối lượng học tập tối thiểu đối với các trình độ của giáo dục nghề nghiệp (GDNN), giáo dục đại học (Điều 6). Đây là cơ sở tạo điều kiện cho quá trình liên thông giữa các cấp đào tạo và hệ thống đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam.

Để thể hiện rõ tính chất “mở”, “liên thông” và mục tiêu “hướng nghiệp”, “phân luồng” của hệ thống giáo dục quốc dân, Dự thảo Luật đã bổ sung một số điều khoản quy định cụ thể về hướng nghiệp, phân luồng (Điều 9) và liên thông (Điều 10), làm rõ khái niệm, nguyên tắc và cơ chế liên thông giữa các cấp học, trình độ đào tạo, tạo hành lang pháp lý để triển khai thực hiện trong thực tiễn, bảo đảm  cơ hội học tập, phát triển bình đẳng cho mọi người.

Về chuẩn đầu vào đối với các ngành nghề đặc thù: Tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật quy định ngưỡng đầu vào đối với ngành đào tạo giáo viên và ngành thuộc lĩnh vực sức khỏe, ngành nghề đặc thù, có cấp chứng chỉ hành nghề thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục đại học (Điều 118).

Có ý kiến đề nghị học sinh học hết trung học cơ sở (THCS) được học lên thẳng trình độ cao đẳng.

UBTVQH cho rằng, đây là chương trình đào tạo tích hợp (nội dung gồm cả kiến thức văn hóa và kiến thức, kỹ năng nghề) hướng đến tạo thuận lợi và đáp ứng nhu cầu thiết thực của người học nhằm khuyến khích người học phân luồng sang giáo dục nghề nghiệp, góp phần tăng tỷ lệ học nghề, đáp ứng nhu cầu của xã hội. Để tạo thuận lợi cho người học được học liên thông và giải quyết vấn đề phân luồng nhưng vẫn bảo đảm chất lượng, chuẩn đầu ra, Dự thảo Luật quy định: Học sinh tốt nghiệp THCS, THPT được tiếp tục học ở cấp học, trình độ cao hơn hoặc học các trình độ giáo dục nghề nghiệp tương ứng với các bậc trình độ đào tạo trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam (các điều 9, 29) trên cơ sở đáp ứng các điều kiện bảo đảm chất lượng và chuẩn đầu ra của từng bậc trình độ đào tạo trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam (Điều 10).

Mặt khác, để bảo đảm khối lượng kiến thức văn hóa THPT khi học sinh THCS theo học trình độ cao đẳng, Dự thảo Luật đã bổ sung quy định tại khoản 4 Điều 29: Học sinh trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp được học khối lượng kiến thức văn hóa THPT .

Có ý kiến đề nghị người học đã học xong trình độ cao đẳng nhưng không có bằng trung học phổ thông (THPT) được học liên thông thẳng lên trình độ đại học; nhưng cũng có ý kiến cho rằng, không quy định nội dung này trong Luật vì dễ bị lợi dụng để hợp thức hóa bằng cấp, không đạt được mục đích phân luồng. Có ý kiến băn khoăn về sự chưa thống nhất trong thời gian đào tạo của các nguồn tuyển sinh vào đại học.

Về vấn đề liên thông lên trình độ đại học đối với người đã học xong trình độ cao đẳng nhưng không có bằng THPT: UBTVQH cho rằng, nguyên tắc liên thông là chuẩn trình độ, kiến thức năng lực theo khung trình độ 8 bậc được Thủ tướng Chính phủ quy định; mục đích tạo nhiều khả năng và nhiều con đường để người học nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp. Hiện nay việc tuyển sinh của các cơ sở giáo dục đại học (GDĐH) thực hiện theo cơ chế tự chủ; và Luật GDĐH cũng đã quy định nguồn tuyển sinh trình độ đại học đa dạng, bao gồm học sinh tốt nghiệp THPT, người tốt nghiệp cao đẳng, trung cấp. Mặt khác, việc đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục đang thực hiện trong toàn bộ hệ thống; tỷ lệ có việc làm và năng lực cạnh tranh sẽ là điều kiện tạo uy tín cho các cơ sở đào tạo, điều này phụ thuộc vào sự chọn lựa, đánh giá của người sử dụng lao động và của cả xã hội. Do vậy, UBTVQH đề nghị Dự thảo Luật này không quy định cụ thể vấn đề trên mà chỉ nêu nguyên tắc, cơ chế, tạo hành lang pháp lý để triển khai thực hiện liên thông. Theo đó, người đã học xong trình độ cao đẳng được học lên trình độ đại học theo nguyên tắc: Liên thông lên cùng nhóm ngành nghề hoặc khi chuyển sang nhóm ngành đào tạo, hình thức giáo dục và trình độ đào tạo khác phải đáp ứng yêu cầu nội dung, chuẩn đầu ra của từng bậc trình độ đào tạo trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam (các điều 10, 29).

Về thời gian đào tạo của các nguồn tuyển sinh vào đại học, UBTVQH cho rằng, hiện nay trong giáo dục, đào tạo, Luật cho phép các cơ sở giáo dục được đào tạo bằng nhiều phương thức: niên chế, tín chỉ, mô-đun… Do đó, chuẩn đầu vào của bậc đào tạo đại học được quy định theo năng lực, kiến thức, số lượng tín chỉ phải tích lũy cho từng chương trình và trình độ đào tạo được quy định trong Khung trình độ Quốc gia Việt Nam, không đặt ra vấn đề thời gian đào tạo.

Có ý kiến đề nghị cần làm rõ giá trị pháp lý của giấy chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) và giấy chứng nhận đủ yêu cầu khối lượng kiến thức văn hóa THPT.

UBTVQH cho rằng, giấy chứng nhận hoàn thành chương trình GDPT được cấp cho người học đã học xong chương trình GDPT nhưng không dự thi tốt nghiệp hoặc thi không đạt, không nằm trong văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân. Tuy nhiên, giấy chứng nhận này có giá trị xác nhận người học đã hoàn thành kiến thức văn hóa THPT, đáp ứng chuẩn đầu vào các trình độ GDNN theo Khung trình độ quốc gia Việt Nam. Quy định này nhằm góp phần thúc đẩy phân luồng, liên thông giữa GDPT và GDNN.

Giấy chứng nhận đủ yêu cầu khối lượng kiến thức văn hóa THPT được cấp cho học sinh có bằng tốt nghiệp THCS học trình độ trung cấp trong cơ sở GDNN (Điều 35). Giấy chứng nhận này có giá trị để đăng ký dự thi THPT (thí sinh tự do), đăng ký tuyển sinh cao đẳng (Điều 119). 

Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định dạy học khối lượng kiến thức văn hóa THPT trong các cơ sở GDNN và người đứng đầu cơ sở giáo dục cấp giấy chứng nhận đạt yêu cầu khối lượng kiến thức văn hóa THPT.

Về vấn đề này UBTVQH có ý kiến như sau: Hiện nay học sinh học hết THCS khi chuyển sang GDNN, để có thể tiếp tục học các trình độ cao hơn cần phải học tích lũy đủ khối lượng kiến thức văn hóa THPT. Nhằm tạo thuận lợi cho người học, Dự thảo Luật bổ sung quy định việc học sinh trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp được học khối lượng kiến thức văn hóa THPT. Sau khi đã học, thi đạt yêu cầu thì người học được người đứng đầu cơ sở giáo dục tổ chức giảng dạy cấp giấy chứng nhận đủ yêu cầu khối lượng kiến thức văn hóa THPT. Dự thảo Luật quy định Bộ trưởng Bộ GDĐT quy định việc giảng dạy khối lượng kiến thức văn hóa THPT trong cơ sở GDNN (Điều 29).

Một số đại biểu đề nghị quy định cụ thể về cơ sở giáo dục thường xuyên (GDTX), chức năng, nhiệm vụ của GDTX với ý nghĩa là một cơ chế học tập linh hoạt, thúc đẩy học tập suốt đời; đề nghị đánh giá hiệu quả của Trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ) để xem xét, cân nhắc việc tiếp tục duy trì mô hình cơ sở giáo dục này.

Tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật đã quy định cụ thể về cơ sở GDTX (Điều 43), quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của GDTX; cơ chế, chính sách để GDTX là một phân hệ của hệ thống giáo dục quốc dân, cùng với giáo dục chính quy góp phần xây dựng hệ thống giáo dục mở, liên thông, thúc đẩy học tập suốt đời (Mục 2, Chương II).

Về mô hình TTHTCĐ, tính đến nay trong cả nước đã có trên 11.000 TTHTCĐ gắn với địa bàn cấp xã và được bố trí nguồn lực tuỳ thuộc vào nhu cầu phát triển và điều kiện thực tiễn của từng địa phương; dẫn tới hiệu quả hoạt động của các trung tâm này không đồng đều, một số nơi không tổ chức được hoạt động. Tuy nhiên, UBTVQH cho rằng, TTHTCĐ là địa điểm để triển khai thực hiện các hoạt động giáo dục theo tinh thần xã hội học tập, thúc đẩy việc học tập suốt đời cho người dân trên địa bàn. Vì vậy, UBTVQH đề nghị giữ như quy định tại Dự thảo Luật (Điều 45), đồng thời đề nghị Chính phủ chỉ đạo đánh giá, tổng kết việc thực hiện mô hình này để có các giải pháp triển khai phù hợp không làm tăng tổ chức, biên chế và ngân sách nhà nước.

  1. Về các loại cơ sở giáo dục

Một số đại biểu đề nghị làm rõ các loại hình nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân và nguyên tắc chuyển đổi loại hình trường nhằm xác định rõ tính chất hoạt động của các trường tư thục.

Tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật chỉnh lý quy định cụ thể nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được tổ chức theo các loại hình trường công lập, trường dân lập (đối với giáo dục mầm non) và trường tư thục. Trường tư thục được phân loại theo nguồn gốc chủ sở hữu vốn, gồm trường tư thục do nhà đầu tư trong nước hoặc nước ngoài đầu tư; theo tính chất hoạt động, gồm trường tư thục và trường tư thục hoạt động không vì lợi nhuận; bổ sung nguyên tắc chuyển đổi loại hình trường tư thục theo hướng chỉ chuyển đổi từ trường tư thục sang trường tư thục hoạt động không vì lợi nhuận và giao Chính phủ quy định cụ thể (Điều 48).

Có ý kiến đề nghị cân nhắc hệ thống các trường dân tộc nội trú, quy định điều kiện học sinh được học trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường dự bị đại học; đề nghị quy định chính sách hỗ trợ ăn ở sinh hoạt (ký túc xá) cho học sinh dân tộc thiểu số học tại các trường phổ thông

Theo luật pháp, trẻ em trong độ tuổi đều được đến trường. Riêng với các trường dân tộc nội trú, UBTVQH cho rằng đây là chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước đối với con em dân tộc thiểu số, đã được tổ chức ổn định và phát huy tác dụng trong nhiều năm qua. Tiếp thu ý kiến đại biểu, UBTVQH đề nghị giữ như quy định của Dự thảo Luật, đồng thời bổ sung khoản 3 Điều 62: “Chính phủ quy định điều kiện học sinh được học trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường dự bị đại học”.

Về đề nghị quy định chính sách hỗ trợ ăn ở sinh hoạt (ký túc xá) cho học sinh dân tộc thiểu số học tại các trường phổ thông, UBTVQH cho rằng, đây là một chính sách mới, để bảo đảm tính khả thi cần có khảo sát, đánh giá tác động và tổng kết sau đó mới quy định trong Luật. Vì vậy, đề nghị không bổ sung vào Dự thảo Luật.

Một số ý kiến đề nghị quy định cụ thể trong Luật về mô hình trường công lập cung cấp dịch vụ giáo dục chất lượng cao và quy định rõ về mô hình trường phổ thông có nhiều cấp học.

Đối với mô hình trường công lập cung cấp dịch vụ giáo dục chất lượng cao: UBTVQH cho rằng, việc nâng cao chất lượng giáo dục là nhiệm vụ của các cơ sở giáo dục, không phân biệt trường công lập, trường tư thục. Về quan điểm chung, theo tinh thần của Hiến pháp, Nhà nước có trách nhiệm ưu tiên tập trung chăm lo giáo dục đại trà và bồi dưỡng tài năng; đảm bảo công bằng trong quyền tiếp cận giáo dục, từng bước phổ cập giáo dục, trong đó quan tâm giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn...

Theo đó, Dự thảo Luật không quy định cơ sở GDMN, GDPT công lập chất lượng cao để bảo đảm môi trường học đường bình đẳng trong các cơ sở giáo dục công lập. Đồng thời quy định khuyến khích phát triển giáo dục chất lượng cao ở các cơ sở giáo dục dân lập, tư thục nhằm huy động sự chia sẻ, tham gia của cộng đồng, của xã hội, đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của người học (Điều 17).

Về mô hình trường phổ thông có nhiều cấp học, UBTVQH cho rằng, trong xã hội luôn tồn tại các loại hình trường và cơ sở giáo dục khác nhau. Theo đó, Dự thảo Luật quy định về trường phổ thông nhiều cấp học (tiểu học, THCS, THPT) phù hợp với điều kiện thực tế của mỗi địa phương theo tinh thần đổi mới hệ thống tổ chức quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập (Điều 34).

  1. Về chương trình, sách giáo khoa GDPT và thi tốt nghiệp THPT

Có ý kiến đề nghị quy định cụ thể về chương trình, sách giáo khoa GDPT; đề nghị xây dựng một chương trình, một bộ sách giáo khoa dùng chung cho cả nước.   

Về quy định chương trình, sách giáo khoa GDPT: UBTVQH cho rằng, hiện nay quy định về chương trình, sách giáo khoa GDPT trong Dự thảo Luật đã cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương khóa XII về đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT, Nghị quyết số 88/QH13 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa GDPT. Theo đó, việc giảng dạy và học tập phổ thông, chuyển từ giáo dục thiên về truyền thụ kiến thức sang giáo dục phát triển phẩm chất và năng lực, phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh. Với quan điểm này, trên nền tảng một chương trình GDPT thống nhất dùng chung trong cả nước do Bộ GDĐT ban hành; sách giáo khoa là tài liệu học tập, cụ thể hóa chương trình, giúp giáo viên và học sinh sáng tạo trong phương pháp dạy và học, nhằm tiếp thu tốt nhất kiến thức chuẩn của chương trình GDPT.

Trên cơ sở ý kiến đại biểu, UBTVQH đề nghị được giữ quy định một chương trình thống nhất, mỗi môn học có một hoặc một số sách giáo khoa như trong Dự thảo Luật và làm rõ ràng, mạch lạc hơn về vai trò của chương trình GDPT và sách giáo khoa. UBTVQH đề nghị trong dự thảo Luật, nội dung này quy định bởi hai điều riêng biệt:

  • Điều 32 quy định về chương trình GDPT: Chương trình là pháp lệnh, thống nhất trong toàn quốc; chương trình xác nhận mục tiêu, nội dung giáo dục, yêu cầu về phẩm chất và năng lực học sinh; chương trình được xây dựng khoa học, cụ thể, liên kết từ lớp 1 đến lớp 12 cho tất cả các môn học. Luật quy định Bộ trưởng Bộ GDĐT chịu trách nhiệm về chất lượng chương trình GDPT và ra quyết định ban hành trên cơ sở kết quả thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình GDPT. Chương trình GDPT được công bố công khai trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng.
  • Điều 33 quy định về sách giáo khoa: Sách giáo khoa là công cụ giảng dạy, triển khai chương trình GDPT, cụ thể hóa các yêu cầu của chương trình và định hướng về phương pháp giảng dạy, cách thức kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục. Luật quy định, sách giáo khoa phải được thẩm định bởi Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa và được Bộ trưởng Bộ GDĐT ban hành.

Để bảo đảm chất lượng của chương trình và sách giáo khoa GDPT, Dự thảo Luật quy định rõ vai trò, trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ GDĐT, Ủy ban Nhân dân các cấp, Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình, sách giáo khoa và Hội đồng thẩm định tài liệu giáo dục cấp tỉnh. 

- Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định Bộ GDĐT tổ chức biên soạn một bộ sách giáo khoa; quy định cụ thể về Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình GDPT, Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa và Hội đồng thẩm định cấp tỉnh thẩm định tài liệu giáo dục của địa phương; quy định việc lựa chọn sách giáo khoa.

UBTVQH cho rằng, trên nguyên tắc chương trình giáo dục phổ thông là pháp lệnh, thống nhất trong cả nước, thì chủ trương tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục, nhà khoa học, nhà giáo tham gia biên soạn sách giáo khoa để bảo đảm mỗi môn học có một hoặc một số sách giáo khoa là cần thiết; điều này nhằm tránh độc quyền trong việc biên soạn, phát hành sách giáo khoa. Để đảm bảo chất lượng sách giáo khoa và khách quan trong biên soạn, chọn lựa sách giáo khoa cho cơ sở giáo dục, Dự thảo Luật quy định Bộ trưởng Bộ GDĐT chịu trách nhiệm quy định quy trình biên soạn, thẩm định, phát hành và quy trình chọn lựa sách giáo khoa tại cơ sở giáo dục. Đảm bảo có ít nhất một bộ sách giáo khoa đủ chất lượng cho giáo dục phổ thông.

Về quy định cụ thể đối với các Hội đồng thẩm định chương trình GDPT, sách giáo khoa: Tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo quy định cụ thể về Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình GDPT, Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa GDPT và Hội đồng thẩm định cấp tỉnh thẩm định tài liệu giáo dục của địa phương, giao Bộ trưởng Bộ GDĐT quy định cụ thể. Về thành phần Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình GDPT, Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa, UBTVQH đề nghị giữ quy định có ít nhất 1/3 thành viên Hội đồng thẩm định là giáo viên đang tham gia giảng dạy, tỷ lệ này tạo điều kiện để Bộ GDĐT có thể chủ động trong việc sắp xếp nhân sự bảo đảm cân đối, hợp lý giữa các thành phần khác nhau.

Về ý kiến sử dụng lại sách giáo khoa qua các năm học: Tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật quy định việc lựa chọn sách giáo khoa để sử dụng ổn định trong giảng dạy, học tập theo quy định của Bộ trưởng Bộ GDĐT.

Có ý kiến đề nghị quy định cụ thể về việc thực nghiệm, thí điểm trong lĩnh vực giáo dục.

UBTVQH cho rằng, giáo dục là một lĩnh vực quan trọng, đối tượng và phạm vi ảnh hưởng lớn, nên việc đổi mới chương trình GDPT hoặc những thay đổi trong chính sách giáo dục sẽ tác động lâu dài tới đời sống, xã hội. Do đó, cần cẩn trọng khi thực hiện những hoạt động thực nghiệm, thí điểm trong quy trình xây dựng chính sách giáo dục.

Tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật đã bổ sung quy định Chính phủ xây dựng quy trình làm thí điểm. Trong đó, quy định những vấn đề cơ bản về mục tiêu, đối tượng, quy mô, thời gian… thực hiện thực nghiệm, thí điểm trong lĩnh vực giáo dục (Điều 32). Đồng thời Dự thảo Luật quy định Chính phủ trình Quốc hội trước khi quyết định những chủ trương về cải cách nội dung chương trình của một cấp học; trình UBTVQH trước khi quyết định việc áp dụng đại trà đối với chính sách mới trong giáo dục đã được thí điểm thành công mà việc áp dụng đại trà sẽ ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ học tập của công dân trong phạm vi cả nước (Điều 103).

Một số ý kiến đại biểu đề nghị bỏ kỳ thi tốt nghiệp THPT, chỉ thực hiện kỳ thi tuyển sinh vào cao đẳng, đại học; có ý kiến đề nghị vẫn giữ kỳ tốt nghiệp THPT và giao các địa phương thực hiện.

UBTVQH cho rằng, hiện nay, việc tổ chức kỳ thi để cấp bằng tốt nghiệp THPT nhằm đánh giá mức độ đạt chuẩn GDPT của học sinh; cung cấp dữ liệu quốc gia cho việc nghiên cứu, xây dựng, điều chỉnh nội dung, phương pháp giảng dạy, chính sách giáo dục và tuyển sinh đại học, đồng thời tạo hành lang pháp lý để thể chế hóa giáo dục thường xuyên, tự học của người dân trong tương lai. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, việc tổ chức thi và cấp bằng tốt nghiệp THPT sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh khi tiếp tục việc học ở nước ngoài.

Theo đó, Dự thảo Luật chỉ quy định thi tốt nghiệp THPT và không quy định phương thức cũng như quy mô tổ chức. Việc tuyển sinh cao đẳng, đại học của các cơ sở giáo dục được thực hiện theo cơ chế tự chủ quy định bởi Luật GDĐH và Luật GDNN.

  1. Về các quy định liên quan đến nhà giáo

Nhiều đại biểu đề nghị cần có chính sách tiền lương ưu tiên đối với nhà giáo; đề nghị quy định cụ thể tiêu chuẩn, chính sách đối với cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, giáo viên đặc thù và các vị trí việc làm khác (không phải là nhà giáo) trong cơ sở giáo dục.

UBTVQH cho rằng, vấn đề chính sách tiền lương phải tương xứng với đặc thù nghề, với vị trí, vai trò của nhà giáo là quan điểm luôn được thể hiện nhất quán trong các nghị quyết của Đảng, chủ trương của Nhà nước. Hiện nay Chính phủ đang triển khai xây dựng Đề án cải cách chính sách tiền lương, tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật thiết kế quy định mang tính nguyên tắc về chính sách ưu tiên phụ cấp đặc thù nghề cho nhà giáo phù hợp đặc thù nghề nghiệp (Điều 77). Việc xác định vị thế, vai trò của nhà giáo, về đặc thù ngành giáo dục và quy định cụ thể về chính sách lương, phụ cấp bảo đảm tương xứng với đặc thù nghề nghiệp sẽ được Chính phủ nghiên cứu, cụ thể hoá trong quá trình xây dựng đề án tiền lương mới trên nguyên tắc quy định bởi Luật này.

Về việc quy định rõ yêu cầu, tiêu chuẩn và chính sách đối với cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, giáo viên đặc thù và các vị trí việc làm khác trong cơ sở giáo dục, UBTVQH cho rằng đây ý kiến xác đáng. Tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật đã rà soát, điều chỉnh quy định về hiệu trưởng, theo đó hiệu trưởng được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý trường học và đạt chuẩn hiệu trưởng (Điều 57). Đối với giáo viên đặc thù và các vị trí việc làm khác trong các cơ sở giáo dục, UBTVQH đề nghị giao Chính phủ quy định để phù hợp với yêu cầu vị trí việc làm của cơ sở giáo dục theo từng loại hình, từng cấp học.

Một số đại biểu đề nghị quy định chặt chẽ về tuyển sinh, đào tạo sư phạm để bảo đảm chất lượng và số lượng theo yêu cầu; nghiên cứu mở rộng đối tượng được hưởng chính sách tín dụng sư phạm cho người không học sư phạm nhưng được tuyển dụng vào ngành giáo dục và làm rõ thời gian công tác trong ngành để được hưởng tín dụng.

UBTVQH cho rằng, hiện nay Chính phủ đang tổ chức quy hoạch và sắp xếp lại hệ thống các trường sư phạm, xây dựng mạng lưới các trường sư phạm trọng điểm; chuẩn hóa chương trình đào tạo sư phạm. Vấn đề quy hoạch trường sư phạm, xây dựng chỉ tiêu đào tạo theo nhu cầu sẽ được quy định trong văn bản dưới Luật.

Về mở rộng đối tượng được hưởng chính sách tín dụng sư phạm cho người không học sư phạm nhưng được tuyển dụng vào ngành giáo dục, UBTVQH cho rằng, chính sách này chỉ áp dụng đối với người học trong thời gian đào tạo tại các trường, khoa sư phạm để thu hút người giỏi vào nghề sư phạm, không mở rộng đến các đối tượng khác.

Về nội dung cần làm rõ thời gian công tác trong ngành giáo dục để được hưởng tín dụng đã được quy định tại Điều 63 của Luật GDĐH, để tránh trùng lặp, UBTVQH đề nghị không quy định trong Dự thảo Luật này mà sẽ quy định cụ thể tại Nghị định hướng dẫn thi hành Luật GDĐH.

Có ý kiến đề nghị thực hiện chính sách phân công công tác cho sinh viên sư phạm sau khi tốt nghiệp trên cơ sở đặt hàng của các địa phương; đề nghị không tuyển dụng người có bằng tốt nghiệp đại học ngành khác và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm vào giảng dạy tại các cơ sở GDPT; có ý kiến băn khoăn về việc giao cho nhà trường thẩm quyền tuyển dụng nhà giáo.

UBTVQH cho rằng, hiện nay việc tuyển dụng nhà giáo được thực hiện theo quy định của Luật Viên chức và các luật khác có liên quan trên nguyên tắc công khai, minh bạch, công bằng, bảo đảm tính cạnh tranh cho người học trong tuyển dụng vào làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập, vì vậy đề nghị giữ quy định này như Dự thảo Luật.

Về trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo, tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật bổ sung quy định, đối với những môn học chưa đủ giáo viên được đào tạo trình độ đại học sư phạm, thì cơ sở được phép sử dụng người có bằng tốt nghiệp đại học và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm vào giảng dạy các cấp học phổ thông. Đồng thời bổ sung quy định trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo GDNN thực hiện theo quy định của Luật GDNN và thẩm quyền quy định việc sử dụng đối với nhà giáo chưa đạt trình độ chuẩn (Điều 73).

Về vai trò của nhà trường trong tuyển dụng nhà giáo, tiếp thu ý kiến của đại biểu, Dự thảo Luật đã điều chỉnh theo hướng giao nhà trường tham gia vào quá trình tuyển dụng (Điều 61). 

Nhiều đại biểu đề nghị quy định chuẩn nhà giáo bảo đảm hợp lý, sát với thực tiễn hơn và cân nhắc lộ trình, tính khả thi của việc nâng chuẩn đào tạo lên trình độ cao đẳng đối với giáo viên mầm non, trình độ đại học đối với giáo viên tiểu học.

Về tiêu chuẩn nhà giáo, tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật đã quy định cụ thể về tiêu chuẩn nhà giáo như phẩm chất, tư tưởng, đạo đức tốt; đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ; có kỹ năng cập nhật, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng chuẩn nghề nghiệp và vị trí việc làm; bảo đảm sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp (Điều 68).

Theo các khuyến cáo ca UNESCO và các tổ chức giáo dục quốc tế, lứa tuổi mầm non, tiểu học là giai đoạn rất quan trọng trong quá trình phát triển của trẻ em. Do vậy, trên cơ sở nghiên cứu tình hình thực tiễn, tham khảo kinh nghiệm quốc tế về chuẩn đào tạo của nhà giáo, UBTVQH đề nghị giữ quy định nâng chuẩn trình độ đào tạo của giáo viên tiểu học từ trung cấp sư phạm lên đại học sư phạm, nâng chuẩn trình độ được đào tạo giáo viên mầm non từ trung cấp sư phạm lên cao đẳng sư phạm (Điều 73). Đây là một trong những giải pháp quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục.

Tuy nhiên, GDMN có tính đặc thù cao, chuẩn nghề nghiệp đối với giáo viên mầm non không chỉ được quyết định bởi trình độ đào tạo mà còn cần kỹ năng sư phạm, kinh nghiệm và nhiều phẩm chất khác của nhà giáo... Vì vậy, Dự thảo Luật giao Chính phủ quy định lộ trình thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng đối với nhà giáo chưa đạt chuẩn để bảo đảm tính khả thi (Điều 118); không làm xáo trộn, ảnh hưởng đến công tác tổ chức và hoạt động của các cơ sở giáo dục; bảo đảm chất lượng đào tạo và yêu cầu nghề nghiệp, tránh hình thức và chú trọng văn bằng hơn năng lực làm việc.

Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định nhiệm vụ nhà giáo về việc thực hiện quy tắc ứng xử của nhà giáo; bổ sung trách nhiệm của nhà giáo đối với người học dưới 18 tuổi.

Tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật đã bổ sung quy định nhà giáo gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, điều lệ nhà trường; quy tắc ứng xử của nhà giáo (Điều 70), bổ sung việc ban hành quy tắc ứng xử của nhà giáo vào nội dung quản lý nhà nước (Điều 102).  

          Về trách nhiệm của nhà giáo đối với người học dưới 18 tuổi: UBTVQH cho rằng, quy định về bảo vệ trẻ em đã được quy định cụ thể trong Luật Trẻ em và các quy định pháp luật có liên quan. Đối với việc bảo vệ trẻ em trong nhà trường Dự thảo Luật đã quy định cụ thể về quyền của trẻ em tại cơ sở GDMN, trong đó có bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em (Điều 25, Điều 80). Đối với việc bảo vệ trẻ em ngoài nhà trường phải được thực hiện theo quy định pháp luật về lao động, hình sự, dân sự, xử lý vi phạm hành chính... Tuy nhiên, tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật bổ sung quy định trách nhiệm của nhà trường chủ động phối hợp với gia đình và xã hội bảo đảm an toàn cho người dạy và người học (Điều 87).

  1. Về các quy định liên quan đến người học

Nhiều đại biểu đề nghị bổ sung quy định về vị trí, vai trò của GDMN; trách nhiệm của Nhà nước đối với việc phát triển GDMN; thúc đẩy xã hội hóa GDMN, quan tâm hơn nữa đến GDMN tại các khu công nghiệp, khu chế xuất. Một số đại biểu đề nghị tăng độ tuổi nhận trẻ mầm non từ 6, 9 hoặc 12 tháng tuổi để phù hợp với thực tiễn.

Tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật đã khẳng định GDMN là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện của trẻ; bổ sung quy định nguyên tắc về chính sách ưu tiên phát triển GDMN ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn có khu công nghiệp, khu chế xuất mật độ dân số cao; chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển GDMN nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội (Điều 28).

Về độ tuổi nhận trẻ, UBTVQH nhận thấy Điều 157 Bộ Luật lao động quy định: lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con là 06 tháng, thời gian nghỉ trước khi sinh tối đa không quá 02 tháng. Trong thực tế, có những trường hợp lao động nữ đi làm khi con mới được 04 tháng tuổi và có nhu cầu gửi con đến cơ sở GDMN. Việc quy định của Dự thảo Luật nhằm tạo cơ sở pháp lý để những cơ sở GDMN đủ điều kiện có thể nhận trẻ từ 03 tháng tuổi, đáp ứng nhu cầu thực tế. Do vậy, UBTVQH xin được giữ như quy định hiện hành. 

Một số ý kiến đại biểu đề nghị bổ sung thêm nội dung vào quy định về quyền của người học; có ý kiến đề nghị quy định mở về độ tuổi bắt đầu các cấp học phổ thông, đề nghị chỉ quy định tuổi cụ thể vào học lớp 1, các cấp học còn lại đề nghị không quy định tuổi đầu vào.

Tiếp thu ý kiến của đại biểu, Dự thảo Luật đã bổ sung quyền của người học được học tập trong môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh; được trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp của mình kiến nghị với nhà trường các giải pháp góp phần xây dựng nhà trường, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người học (Điều 82).

Về độ tuổi bắt đầu các cấp học phổ thông, UBTVQH đề nghị giữ như quy định hiện hành để bảo đảm tính ổn định, phù hợp với sự phát triển thể chất, tâm lý của người học và thuận lợi trong thực hiện dự báo quy hoạch đầu vào các cấp học, thực hiện các chính sách giáo dục. Để làm rõ và mạch lạc về việc người học được học sớm hoặc muộn hơn so với tuổi quy định, tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật đã xác định các nhóm đối tượng được học trước tuổi, học ở tuổi cao hơn tuổi quy định, học vượt lớp, học lưu ban,…và giao Bộ trưởng Bộ GDĐT quy định cụ thể (Điều 29).

Có ý kiến đề nghị bổ sung nội dung quy định trách nhiệm của Nhà nước trong xây dựng môi trường giáo dục an toàn và lành mạnh.

UBTVQH cho rằng vấn đề xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh là một trong những yêu cầu cấp thiết, do vậy, đã được Dự thảo Luật đề cập ở nội dung quy định về trách nhiệm của mọi tổ chức, gia đình và công dân trong xã hội hoá giáo tục (Điều 16); điều kiện thành lập nhà trường (Điều 51); quyền của người học (Điều 82); trách nhiệm của xã hội (Điều 91). Ngoài ra, tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật bổ sung quy định trách nhiệm của Nhà nước “tạo môi trường giáo dục an toàn” (Điều 13).

Một số đại biểu đề nghị bổ sung đối tượng cử tuyển nhằm tăng cường nguồn nhân lực có chất lượng cho các địa phương; có ý kiến đề nghị cân nhắc tính khả thi của quy định bố trí việc làm cho người học xong cử tuyển.

Về đề nghị bổ sung đối tượng cử tuyển, UBTVQH cho rằng, cử tuyển là một chính sách quan trọng của Đảng, Nhà nước để xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi; còn mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao của các địa phương này đã và đang được thực hiện bằng nhiều chính sách khác. Do vậy, UBTVQH đề nghị giữ quy định về chính sách cử tuyển như trong Dự thảo Luật, theo đó, đối tượng cử tuyển đối với học sinh các dân tộc thiểu số rất ít người; học sinh dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn chưa có hoặc có rất ít cán bộ, công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số.

Về tính khả thi của quy định bố trí việc làm cho người học xong cử tuyển, UBTVQH cho rằng, đây là quy định cần thiết để bảo đảm hiệu quả của việc xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật quy định rõ trách nhiệm của địa phương trong việc đề xuất, phân bổ chỉ tiêu cử tuyển; cử người đi học theo tiêu chuẩn, chỉ tiêu được duyệt; và bố trí việc làm cho người học sau khi tốt nghiệp. Đồng thời giao Chính phủ quy định cụ thể điều này (Điều 86). Về chất lượng đào tạo cử tuyển, thuộc về trách nhiệm của cơ sở giáo dục đào tạo theo chuẩn đầu ra của Khung trình độ quốc gia.

Một số ý kiến đại biểu đề nghị làm rõ đối tượng của giáo dục hòa nhập; cân nhắc việc đưa các đối tượng “người học có hoàn cảnh đặc biệt, người học thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân tộc thiểu số, người học đang sinh sống tại các xã biên giới, miền núi, hải đảo và các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn” vào diện đối tượng của giáo dục hòa nhập; quy định cụ thể về điều kiện bảo đảm để thực hiện giáo dục hòa nhập; bổ sung một khoản về chữ nổi Braille và ngôn ngữ kí hiệu dành cho người khuyết tật.

Tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật đã quy định cụ thể về khái niệm giáo dục hòa nhập, làm rõ đối tượng của giáo dục hòa nhập là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của Luật Trẻ em, người học là người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật. Riêng nhóm “trẻ em vi phạm pháp luật”, theo quy định của Bộ luật hình sự và Luật Xử lý vi phạm hành chính thì đối tượng trẻ em từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm pháp luật phải chịu hình phạt tù hoặc các biện pháp khác như đưa vào trường giáo dưỡng, giáo dục tại xã, phường, thị trấn… Do đó, Dự thảo Luật bổ sung “các quy định của pháp luật có liên quan” để bảo đảm tính khả thi khi thực hiện giáo dục hòa nhập cho người học là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (Điều 15); bổ sung quy định người khuyết tật được học bằng chữ nổi Braille, ngôn ngữ ký hiệu theo quy định của Luật Người khuyết tật (Điều 11). Ngoài ra, Nhà nước có chính sách hỗ trợ thực hiện giáo dục hòa nhập cho người học, chính sách học bổng, trợ cấp xã hội, miễn giảm học phí cho các đối tượng này (Điều 15, Điều 84).

Có ý kiến đề nghị người học là người dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn vẫn được hưởng chính sách trợ cấp và miễn, giảm học phí khi thay đổi địa bàn học tập hoặc khi địa bàn thay đổi chuẩn.

Về vấn đề này, UBTVQH nhận thấy: Chính sách dân tộc đang được Đảng và Nhà nước quan tâm triển khai đồng bộ trên mọi lĩnh vực giáo dục, văn hóa, y tế,... Vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được Chính phủ quy định và xây dựng tiêu chí (khu vực I, II, III) theo từng giai đoạn và được triển khai trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật; đồng thời trong trường hợp địa bàn thay đổi chuẩn thì người học thuộc hộ nghèo và cận nghèo vẫn được hưởng chính sách trợ cấp và miễn, giảm học phí theo quy định tại Điều 84.

Mặt khác, UBTVQH nhận thấy, việc đề nghị bổ sung quy định người học là người dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn vẫn được hưởng chính sách trợ cấp và miễn, giảm học phí khi thay đổi địa bàn học tập hoặc khi địa bàn thay đổi chuẩn có thể góp phần hạn chế tình trạng học sinh dân tộc thiểu số bỏ học; tuy nhiên, đây là một chính sách mới, phạm vi đối tượng rộng nhưng chưa được đánh giá tác động cụ thể. Vì vậy, UBTVQH đề nghị giữ như quy định của Dự thảo Luật, đồng thời, tiếp thu ý kiến đại biểu, bổ sung quy định giao Chính phủ quy định cụ thể Điều này để tạo điều kiện cho Chính phủ có thể linh hoạt trong việc xây dựng, triển khai thực hiện chính sách đối với người học là người dân tộc thiểu số tuỳ theo điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể (Điều 84).    

  1. Về đầu tư, tài chính trong giáo dục

Nhiều ý kiến đề nghị làm rõ khái niệm “phổ cập giáo dục”,“giáo dục bắt buộc”; quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước đối với giáo dục bắt buộc, phổ cập giáo dục.

UBTVQH cho rằng, nhằm thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước ta “giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”, “đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”, Luật cần thể hiện rõ ràng, mạnh mẽ trách nhiệm của Nhà nước đối với phát triển giáo dục. Đặc biệt, với giáo dục bắt buộc, Nhà nước phải quy định chuẩn mực, bảo đảm miễn phí và đầu tư đầy đủ để đáp ứng các yêu cầu cơ bản; cần có cơ chế rõ ràng để xã hội hóa giáo dục nhưng phải bảo đảm nguyên tắc cấm lợi dụng hoạt động giáo dục vì mục đích vụ lợi. Tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật đã được chỉnh lý để làm rõ khái niệm giáo dục bắt buộc, phổ cập giáo dục, quy định cụ thể trách nhiệm của Nhà nước bảo đảm các điều kiện để thực hiện giáo dục bắt buộc phổ cập giáo dục (các điều 5, 14).

Nhiều đại biểu đề nghị làm rõ chính sách học phí đối với người học diện phổ cập giáo dục; việc hỗ trợ đóng học phí đối với người học diện phổ cập tại cơ sở giáo dục dân lập, tư thục; cần cụ thể hóa về đối tượng thụ hưởng, tiêu chí, mức tính.

UBTVQH cho rằng, theo quy định của Hiến pháp 2013 thì Nhà nước “bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thu học phí” và theo Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo thì Nhà nước thực hiện phổ cập giáo dục bắt buộc 9 năm sau năm 2020. Như vậy, chính sách không thu học phí của người học ở các trường công lập cho nhóm đối tượng trẻ em mầm non 5 tuổi, học sinh tiểu học, đã thể hiện sự quan tâm và trách nhiệm của Nhà nước đối với giáo dục bắt buộc và giáo dục phổ cập. Theo đó, Dự thảo Luật đã quy định:

Trẻ em mầm non năm tuổi, học sinh tiểu học trong cơ sở giáo dục công lập không phải nộp học phí; ở địa bàn không đủ trường công, trẻ em mầm non năm tuổi, học sinh tiểu học trong cơ sở giáo dục dân lập, tư thục được Nhà nước hỗ trợ tiền nộp học phí theo mức hỗ trợ do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định.

Học sinh trung học cơ sở trong cơ sở giáo dục công lập không phải nộp học phí theo lộ trình do Chính phủ quy định (Điều 97).

Một số ý kiến đại biểu đề nghị mở rộng việc miễn học phí cho đối tượng trẻ mầm non 3 tuổi, 4 tuổi; có chính sách miễn, giảm học phí cho đối tượng học sinh là con hộ nghèo, gia đình chính sách một cách phù hợp.

UBTVQH cho rằng, Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm, ưu tiên đặc biệt đối với trẻ em. Dự thảo Luật tiếp thu theo hướng, trước mắt đề nghị tập trung thực hiện chính sách không thu học phí cho trẻ 5 tuổi theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Việc mở rộng đối tượng, không thu học phí đối với trẻ em dưới 5 tuổi sẽ thực hiện khi cân đối được nguồn lực để bảo đảm an sinh xã hội.

Về đối tượng học sinh là con hộ nghèo, gia đình chính sách, tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật đã bổ sung đối tượng “người thuộc hộ nghèo và cận nghèo”, theo đó các đối tượng được hưởng chính sách trợ cấp và miễn, giảm học phí gồm: đối tượng được hưởng chính sách xã hội, người dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, người mồ côi không nơi nương tựa, người khuyết tật có khó khăn về kinh tế, người thuộc hộ nghèo và cận nghèo (Điều 84).

Nhiều ý kiến đại biểu đề nghị quy định cụ thể về xã hội hóa giáo dục trong Luật để tạo điều kiện cho hoạt động xã hội hóa được triển khai một cách hiệu quả, thu hút các nguồn lực xã hội cho giáo dục; cần có chế tài, cơ chế quản lý, kiểm tra, giám sát nguồn thu và sử dụng nguồn lực xã hội hóa trong các cơ sở giáo dục, tránh tình trạng “lạm thu” trong trường học.

Về quy định cơ chế quản lý, kiểm tra, giám sát nguồn thu và sử dụng nguồn lực xã hội hóa, tránh tình trạng lạm thu, UBTVQH cho rằng, Dự thảo Luật đã quy định Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định các khoản thu dịch vụ phục vụ, hỗ trợ hoạt động giáo dục của nhà trường đối với các cơ sở giáo dục công lập theo thẩm quyền quản lý nhà nước về GDĐT trên cơ sở đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (khoản 4 Điều 97).

Để tránh tình trạng “lạm thu” trong nhà trường, tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật đã quy định cụ thể việc không được lợi dụng việc tài trợ, ủng hộ cho giáo dục để ép buộc đóng góp tiền hoặc hiện vật (khoản 5 Điều 96). Ngoài ra, Dự thảo Luật đã sửa đổi quy định quản lý chặt chẽ nguồn thu, chi tài chính, quản lý tài sản theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và Luật Quản lý sử dụng tài sản công đối với các cơ sở giáo dục công lập; nhấn mạnh trách nhiệm giải trình, thực hiện chế độ kế toán, kiểm toán, thuế và công khai tài chính theo quy định của pháp luật (Điều 99, Điều 103).

Có ý kiến đề nghị bổ sung nội dung đa dạng hóa các cấp học, ngành học vào quy định về xã hội hoá; giao Chính phủ quy định chi tiết về xã hội hóa đối với giáo dục và đào tạo để chủ trương này được thực hiện hiệu quả hơn.

UBTVQH cho rằng, Dự thảo Luật quy định việc thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và các hình thức giáo dục (khoản 2 Điều 16) đã bao hàm  các cấp học, ngành học, vì vậy đề nghị không bổ sung  nội dung này.

Về vấn đề quy định cụ thể chính sách xã hội hoá trong giáo dục, UBTVQH cho rằng, chính sách xã hội hóa là một chính sách lớn áp dụng nhiều lĩnh vực như giáo dục, văn hóa, y tế, môi trường,…Nhà nước có những quy định điều chỉnh chung. Trên tinh thần đó, đối với lĩnh vực giáo dục, ngoài các quy định chung về xã hội hóa giáo dục, UBTVQH đề nghị chỉ quy định Chính phủ hướng dẫn cụ thể chính sách ưu đãi đối với trường dân lập, tư thục như đã thể hiện tại Điều 101.

Một số ý kiến đại biểu đề nghị không quy định quỹ khuyến học và quỹ bảo trợ giáo dục trong Dự thảo Luật; đề nghị bỏ quy định về kinh phí đặt hàng, giao nhiệm vụ của Nhà nước trong các nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục và giao Chính phủ quy định chi tiết điều này.

UBTVQH cho rằng, nội dung quy định về quỹ khuyến học, quỹ bảo trợ giáo dục đã được quy định tại Luật Giáo dục hiện hành. Hiện nay nhiều tổ chức, hiệp hội đã thành lập quỹ khuyến học, quỹ bảo trợ giáo dục để hỗ trợ, khuyến khích những tấm gương nghèo vượt khó, động viên các em cắp sách tới trường. Thời gian qua các quỹ này đã phát huy hiệu quả, những giới hạn thực tế cần được giám sát và điều chỉnh trong thời gian sắp tới. Do vậy, UBTVQH xin đề nghị giữ như quy định tại Dự thảo Luật (Điều 92).

Về đề nghị liên quan đến kinh phí đặt hàng, giao nhiệm vụ của Nhà nước trong các nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục (Điều 93), UBTVQH nhận thấy hiện nay, trong quá trình đổi mới GDĐH, nhằm nâng cao tính tự chủ và hiệu quả sử dụng ngân sách Nhà nước, Chính phủ đang chuyển từ cấp kinh phí hoạt động sang cơ chế đặt hàng đối với một số sản phẩm dịch vụ công, trong đó có đặt hàng đào tạo. Vì vậy, UBTVQH xin đề nghị giữ như quy định trong Dự thảo Luật.

Một số đại biểu đề nghị quy định chặt chẽ hơn về tài chính của cơ sở giáo dục dân lập, tư thục và không nên can thiệp vào tài chính, tài sản của các cơ sở giáo dục thuộc loại hình này.

Về vấn đề này, UBTVQH cho rằng, cơ sở giáo dục dân lập, tư thục hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính, thực hiện chế độ kế toán, kiểm toán, thuế, định giá tài sản và công khai tài chính theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Luật này chỉ quy định một số nguyên tắc về chế độ tài chính, sở hữu tài sản và chuyển nhượng vốn đối với trường dân lập, tư thục như nội dung tại các điều 100, 101 để vừa bảo đảm quyền lợi của người học, vừa bảo đảm quyền tự chủ về tài chính và quản lý tài sản của cơ sở giáo dục dân lập, tư thục theo quy định pháp luật có liên quan.

  1. Về quản trị của cơ sở giáo dục

Một số đại biểu có ý kiến đề nghị cần quy định cụ thể về tự chủ các cơ sở đào tạo và dân chủ của cơ sở giáo dục; tăng cường tiền kiểm và hậu kiểm khi nhà trường tự chủ; quy định rõ về hội đồng trường đối với các loại hình trường.

Một số ý kiến đại biểu đề nghị làm rõ mối quan hệ giữa Hội đồng trường với Hiệu trưởng nhà trường, làm rõ cơ chế giám sát của các tổ chức đoàn thể xã hội trong nhà trường; cần cân nhắc quy định Hội đồng trường đối với cơ sở GDMN.

Thực hiện cơ chế tự chủ, cơ cấu quản lý trong cơ sở giáo dục, đào tạo bao gồm Hội đồng trường và Hiệu trưởng. Hội đồng trường của trường công lập là cơ quan quản trị nhà trường, thực hiện quyền đại diện cho quyền sở hữu nhà nước và các bên có lợi ích liên quan; Hiệu trưởng chịu trách nhiệm quản lý cơ sở giáo dục theo Nghị quyết của các cấp lãnh đạo.  

Trên cơ sớ đó, Dự thảo Luật quy định về Hội đồng trường là bắt buộc ở tất cả các loại hình trường, đồng thời mở rộng thành phần tham gia Hội đồng trường nhằm bảo đảm thực hiện quy chế dân chủ trong nhà trường. Tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật đã bổ sung quy định về tổ chức, quản lý nhà trường theo hướng tăng quyền chủ động của nhà trường thông qua các quy định về Hội đồng trường; điều chỉnh, bổ sung, làm rõ cơ cấu, tổ chức quản trị của các loại hình nhà trường; thống nhất tên gọi chung là Hội đồng trường đối với tất cả loại hình trường, quy định rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, thành phần của Hội đồng trường theo từng cấp học và từng loại hình trường (Điều 56). Dự thảo Luật cũng quy định rõ hơn về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của nhà trường; quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của nhà trường tương ứng với các loại hình.

Dự thảo Luật quy định thành viên trong hội đồng trường gồm có đại diện Ban chấp hành đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là người học nhằm một mặt bảo đảm được tính định hướng tư tưởng, mặt khác vẫn bảo đảm có tiếng nói đại diện cho người học trong hội đồng trường

Về mối quan hệ giữa Hội đồng trường với Hiệu trưởng; giữa Chủ tịch Hội đồng trường và Hiệu trưởng, Luật  quy định giao Chính phủ hướng dẫn cụ thể.

Có ý kiến cân nhắc thành viên Hội đồng trường là người học đối với các bậc học mầm non, phổ thông; có ý kiến đề nghị Chủ tịch Hội đồng trường phải là Bí thư Đảng ủy (theo Nghị quyết 19/NQ-TƯ) trong trường công lập.

Có ý kiến đề nghị bổ sung trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở giáo dục đối với các cơ sở giáo dục khác.

Đối với GDMN và GDPT, Dự thảo Luật quy định theo hướng mở rộng thực hiện dân chủ cơ sở, Hội đồng trường chỉ thực hiện nhiệm vụ giám sát hoạt động, gắn kết nhà trường với gia đình, địa phương. Việc tham gia  của người học, gia đình người học trong Hội đồng nhà trường phù hợp với tính chất, nguyên lý của các cấp học này, phù hợp với quyền của người học. Tiếp thu ý kiến đại biểu, Luật không quy định đại diện học sinh trong Hội đồng trường mầm non. Dự thảo Luật giao Chính phủ quy định cụ thể về quản lý trong cơ sở GDMN và GDPT công lập (Điều 61).

Về đề nghị Chủ tịch Hội đồng trường kiêm Bí thư Đảng ủy (theo Nghị quyết 19/NQ-TƯ) trong trường công lập, UBTVQH cho rằng vấn đề này nên quy định tại các văn bản hướng dẫn và trong các văn bản của Đảng sẽ phù hợp hơn. Tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật bổ sung khoản 2, Điều 66: “Người đứng đầu cơ sở giáo dục khác chịu trách nhiệm về chất lượng giáo dục, quản lý, điều hành cơ sở giáo dục theo quy định của pháp luật”.

  1. Quản lý nhà nước về giáo dục

Một số đại biểu đề nghị làm rõ trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ GDĐT, các Bộ, ngành khác và chính quyền địa phương đối với giáo dục; cần quan tâm đến vấn đề phân cấp, phân quyền trong các quy định cụ thể của Luật.

UBTVQH cho rằng, hệ thống giáo dục quốc dân là thống nhất, Dự thảo Luật quy định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về GDĐT; quy định cụ thể trách nhiệm của Bộ GDĐT, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội trong quản lý nhà nước đối với GDĐTGDNN.

Để tạo sự linh hoạt cho Chính phủ trong phân công trách nhiệm quản lý nhà nước, phân cấp, phân quyền rõ ràng, phù hợp với yêu cầu thực tiễn, tiếp thu ý kiến của đại biểu, Dự thảo Luật quy định các bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp với Bộ GDĐT, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục theo sự phân công của Chính phủ; Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục theo Luật tổ chức chính quyền địa phương và phân cấp của Chính phủ (Điều 103).

Có ý kiến đại biểu đề nghị quy định cụ thể về tiêu chuẩn, nguyên tắc hoạt động, cơ cấu tổ chức, trách nhiệm và quyền hạn của tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục để thống nhất với quy định của Luật GDĐH, Luật GDNN.

Về vấn đề này, UBTVQH đã chỉnh lý theo hướng giải thích khái niệm “kiểm định chất lượng giáo dục” (Điều 5); bổ sung quy định về mục tiêu, nguyên tắc, đối tượng kiểm định chất lượng giáo dục; bổ sung quy định tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục của nước ngoài được hoạt động tại Việt Nam và thẩm quyền của Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục thành lập, việc cho phép hoạt động, giải thể tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục; quy định trách nhiệm, quyền hạn của tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đối với GDĐHGDNN; quy định điều kiện và thủ tục để tổ chức kiểm định nước ngoài được công nhận hoạt động tại Việt Nam; giao Bộ trưởng Bộ GDĐT quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập, cho phép hoạt động, đình chỉ hoạt động, giải thể tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục (các điều 108, 109,110).

PHẦN II: MỘT SỐ NỘI DUNG KHÁC VÀ KỸ THUẬT LẬP PHÁP

  1. Về một số nội dung khác

Có ý kiến đề nghị tên gọi các cấp học phổ thông là cấp 1, cấp 2, cấp 3; bổ sung quy định về ngày khai giảng và bế giảng năm học.

UBTVQH cho rằng, quy định về tên gọi các bậc học: Tiểu học, Trung học (bao gồm THCS và THPT), Đại học đã được thực hiện ổn định theo quy định của Luật Giáo dục năm 1998. Tên gọi các bậc học phổ thông cần phải được chính xác, khoa học, phù hợp với lứa tuổi, tâm, sinh lý của người học (nhi đồng, thiếu niên, thanh niên) và phù hợp với tên gọi các trình độ đào tạo cao hơn. Thực tế trong các giai đoạn phát triển của giáo dục nước ta, tên gọi của các cấp học phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân đã có sự thay đổi về tên gọi, dẫn đến thay đổi về tổ chức nhà trường và xây dựng lại trường sở (biển tên, con dấu,...) và những thay đổi của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục. UBTVQH đề nghị giữ như quy định hiện hành, vì đã ổn định, cơ bản phù hợp với hệ thống phân loại giáo dục quốc tế.

Về ý kiến bổ sung quy định về ngày khai giảng và bế giảng năm học, UBTVQH cho rằng, Luật Giáo dục là luật chung về giáo dục, áp dụng cho các cấp học, trình độ đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân. Đối với GDNN và GDĐH việc khai giảng, bế giảng và tuyển sinh giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục. Vì vậy, UBTVQH đề nghị không quy định cụ thể ngày khai giảng, bế giảng cho GDPT, GDMN trong Luật này. Việc quy định về ngày khai giảng, bế giảng đối với GDPT, GDMN sẽ thực hiện khi có luật về các bậc học này.

Có ý kiến đề nghị quy định về việc dạy thêm, học thêm và có chế tài cụ thể để quản lý dạy thêm, học thêm; trách nhiệm của nhà giáo trong quản lý học sinh học thêm.

Về vấn đề này, UBTVQH cho rằng, dạy thêm, học thêm là nhu cầu của một bộ phận người dạy, người học và phụ huynh học sinh nhằm nâng chất lượng học tập, tuy nhiên hoạt động này cần được nhìn nhận đúng đắn, phải được quản lý chặt chẽ, không để xảy ra tiêu cực, thương mại hoá trong giáo dục, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Đây là một nội dung chưa được tng kết, UBTVQH đề nghị chưa đưa vào Luật việc quản lý dạy thêm, học thêm và chế tài cụ thể đối với hoạt động này,  nên quy định tại các văn bản dưới luật theo các điểu cấm trong Luật này.

Một số ý kiến đại biểu đề nghị xem lại quy định về việc phong giáo sư, phó giáo sư; bổ sung phong tặng danh hiệu giáo sư danh dự.

Về vấn đề này UBTVQH nhận thấy, việc công nhận chức danh giáo sư, phó giáo sư tuân thủ theo Luật Sửa đổi một số điểu của Luật GDĐH; ngoài ra ngày 31/8/2018 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 37/2018/QĐ-TTg về việc ban hành Quy định tiêu chuẩn, thủ tục xét công nhận đạt tiêu chuẩn và bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư; thủ tục xét, hủy bỏ công nhận chức danh và miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư. Đối với việc phong tặng danh hiệu giáo sư danh dự hiện nay được thực hiện theo quy định tại Điều lệ trường đại học ban hành kèm theo Quyết định số 70/2014/QĐ-TTg ngày 10/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ. Do vậy, xin đề nghị giữ như quy định tại Dự thảo Luật.

Một số đại biểu cho rằng Luật Giáo dục cần quy định các vấn đề chung nhất của hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó có cả GDĐH và GDNN; có ý kiến đề nghị nên bổ sung và giải thích một số khái niệm, thuật ngữ để bảo đảm rõ nghĩa; tập hợp các quy định về chính sách ở các chương thành một nhóm chính sách để tránh tản mạn.

Tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật đã được rà soát để sửa đổi, bổ sung các khái niệm thuật ngữ, bảo đảm tính thống nhất, tương thích và khoa học; quy định những vấn đề chung nhất về GDĐH và GDNN để bảo đảm tính hệ thống trong giáo dục và vị trí của Luật Giáo dục trong hệ thống pháp luật về giáo dục. Những vấn đề cụ thể sẽ được quy định tại Luật GDĐH và Luật GDNN trên cơ sở thống nhất, không trái với các quy định của Luật Giáo dục.

Có ý kiến đề nghị bổ sung thêm những hành vi không được làm và thiết kế thành một điều; bổ sung thêm đối tượng bị cấm; Có ý kiến đề nghị thống nhất cách gọi các hành vi không được làm thành “các hành vi nghiêm cấm trong cơ sở giáo dục” như quy định của  luật khác.

Tiếp thu ý kiến đại biểu về quy định các hành vi cấm trong hoạt động giáo dục, Dự thảo Luật đã quy định một điều về cm lợi dụngc hoạt động giáo dục (Điều 21). Đối với các hành vi của các chủ thể trong nhà trường, Dự thảo Luật đã chuyển các quy định về các hành vi nhà giáo và người học không được làm (các chương IV, V) thành một điều về các hành vi nghiêm cấm trong cơ sở giáo dục, áp dụng cho tất cả các chủ thể và đối tượng liên quan tới giáo dục cũng như nhà giáo và người học, đồng thời bổ sung các hành vi nghiêm cấm khác theo quy định của pháp luật (Điều 22). 

  1. Về kỹ thuật lập pháp

Có ý kiến đề nghị rà soát một số quy định của Dự thảo Luật có sự không thống nhất, chồng chéo với Luật GDĐH, Luật GDNN và các văn bản pháp luật có liên quan.

Tiếp thu ý kiến đại biểu, UBTVQH đã chỉ đạo nghiên cứu về các nội dung có liên quan đến các luật chuyên ngành về giáo dục, đào tạo và các luật có liên quan khác. Theo đó bổ sung một khoản tại Điều 119 Dự thảo Luật để sửa đổi một số điều của Luật GDNN khác với quy định của Dự thảo Luật này.

- Có ý kiến đề nghị cụ thể hóa những vấn đề có thể quy định ngay trong luật, giảm thiểu nhất các nội dung giao cho Chính phủ và các bộ quy định hoặc hướng dẫn bằng các văn bản dưới luật.

Tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật đã tiếp thu theo hướng những vấn đề ổn định, được thực tiễn kiểm nghiệm sẽ được quy định cụ thể trong Luật; những vấn đề khác sẽ được quy định trong văn bản dưới luật để bảo đảm tính linh hoạt và khả thi.

Bên cạnh nội dung tiếp thu, giải trình trên đây, UBTVQH đã chỉ đạo rà soát, chỉnh lý, hoàn thiện cả về nội dung và kỹ thuật văn bản bảo đảm rõ ràng, dễ hiểu và thống nhất trong hệ thống văn bản pháp luật như Dự thảo Luật gửi kèm. 

Trên đây là Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý Dự thảo Luật Giáo dục (sửa đổi), UBTVQH xin trân trọng báo cáo các vị đại biểu Quốc hội./.

 

Nơi nhận:

- Các vị ĐBQH;

- Lưu: HC, VHGDTTN.

- E-pas:

TM. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

 

 

 

 

 

 

Tòng Thị Phóng

 

 

 

 

Bài tin liên quan
Tin tức
Tin tức
Tin đọc nhiều