Danh mục

Thăm dò ý kiến

Bạn thấy giao diện mới này như thế nào?

Xấu

Bình thường

Đẹp

Đăng nhập

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 17


Hôm nayHôm nay : 1921

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 5711

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3593961

Trang nhất » Tin Tức » Tin tức

Những bài học lớn về đạo đức và cách ứng xử mẫu mực của người thầy thuốc từ cuốn Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh

Thứ ba - 26/01/2016 01:44
Những bài học lớn về đạo đức và cách ứng xử mẫu mực của người thầy thuốc từ cuốn Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh

Những bài học lớn về đạo đức và cách ứng xử mẫu mực của người thầy thuốc từ cuốn Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh

Hải Thượng y tông tâm lĩnh được đánh giá là một công trình trước tác đồ sộ đặt nền móng cho y học cổ truyền của dân tộc. Bên cạnh những tri thức có ý nghĩa về mặt khoa học chuyên ngành thì cuốn sách còn để lại những bài học lớn về đạo đức của người thầy thuốc.
        Đọc cuốn sách này, chúng ta dễ nhân ra một quan điểm bao trùm tư tưởng đạo đức hành nghề của cụ Hải Thượng là chữ “Nhân”. Y huấn cách ngôn dạy rằng : “Nghề y là một nhân thuật”. Cũng trong chương này, cụ nhắc đi nhắc lại nhiều lần: “Nghề thuốc là một nghề thanh cao, là một nghề có nhân”. Cụ nói: “Đạo làm thuốc là một nhân thuật có nhiệm vụ giữ gìn tính mạng người ta, phải lo cái lo của người, vui cái vui của người, chỉ lấy việc giúp người làm cái phận sự của mình mà không hề cầu lợi kể công” . Theo cụ: “Nhân là một đức tính cơ bản của người làm nghề y. Đức tính cơ bản ấy nên là điều kiện tiên quyết để vào nghề y, nếu không có lòng nhân, nếu không biết quan tâm đến người khác thì nên đi kiếm sống bằng nghề khác ít đòi hỏi nhân đạo hơn”. Có lúc cụ giãi bày: “Tôi thường thấm thía rằng, thầy thuốc có nhiệm vụ bảo vệ mạng sống người ta, sự sống sự chết, điều họa phúc đều ở tay mình xoay chuyển, lẽ nào người có trí tuệ không đầy đủ, hành động không chu đáo, tâm hồn không khoáng đạt, trí quả cảm không thận trọng mà mà dám theo đòi bắt chước nghề y”. Cụ nói thêm người thầy thuốc  chân chính cần có tám chữ: Nhân (Thương người), Minh (Sáng suốt), Đức (Đức độ), Trí (Thông minh), Lượng (Rộng lượng), Thành (Thành thật), Khiêm (Khiêm tốn), Cần (Chăm chỉ, chịu khó). Trong tám chữ đó, chữ Nhân luôn được đặt lên hàng đầu. Đó không chỉ là tình thương người mà còn là sợi dây cương thường đề người thầy thuốc giữ mình cho trong sạch, là động cơ để thầy thuốc cố gắng trau dồi đạo đức, tư cách của mình.
    Y lý thâu nhàn lái ngôn là một mảng đặc biệt trong tập sách này. Đó là những bài thơ  được cụ Hải Thượng tùy hứng trong lúc làm thuốc. Gọi là tùy hứng  bởi vì đó đơn giản chỉ là những lời lẽ nôm na ghi lại những tình huống, sự việc, tâm tư của cụ lúc hành nghề. Thế nhưng chính những bài thơ đó đã giúp chúng ta nhận ra chân dung một người thầy thuốc nhân từ, độ lượng. Bài thơ Hành y mạo vũ qua Mông Sơn ( Đi thăm bệnh dầm mưa qua núi Mông) là một bài thơ tiêu biểu. Xin trích dẫn lời dịch nghĩa như sau:

                                 Bốn bác thợ cày cõng ông già lười
                                 Lội bùn, dạo mưa vào trong núi
                                 Đá ngầm ghồ ghề chặn ngang núi
                                 Mây núi man mác che những ngọn núi ngổn ngang
                                 Chim nội sợ lạnh ngủ trên rừng.
                                 Hoa ngăn giữ phấn ngậm kín trên đầu lá.
                                 Việc cứu người là gấp nên phải chịu cay đắng
                                 Việc đáng làm thì không kể công.
 

 Xét về phương diện thi pháp thì đây là một bài thơ có vị trí khá đặc biêt không chỉ trong tập sách này mà còn cả trong thi ca Việt Nam thế kỷ 18. Bởi vì trong khi các thi nhân cùng thời đang làm thơ theo kiểu ngâm vịnh thì cụ Lê Hữu Trác đã “tiến lên hiện thực rồi”(Chữ dùng của nhà thơ Xuân Diệu). Bài thơ cũng bộc lộ cái tâm, cái chí của chủ thể trữ tình thế nhưng tất cả đều nằm ở nơi cái chết và sự sống của người bệnh. Thế cho nên dẫu rằng con đường qua núi đêm mưa ghập ghềnh gian khổ thì cụ Hải Thượng vẫn cảm thấy trong lòng “hoan hỉ” lạ thường:

                                 Việc cứu người là gấp nên phải chịu cay đắng
                                  Việc đáng làm thì không kể công.


      Hai câu thơ có lời lẽ thật giản dị nhưng toát lên một quan niệm sống thật sâu sắc. Thiết nghĩ trong cuộc sống chúng ta, khi mà lòng tốt hãy còn là một điều gì đó xa xỉ thì cái triết lý “từ bi hỉ xã” của cụ nếu không đủ sức răn người thì cũng đủ làm nên một điều gì đó đủ để người đọc có thêm một niềm an nhiên tự tại - Niềm an nhiên tự tại của một con người đã lấy tình yêu thương con người làm lẽ sống. Điều này dường như đã trở thành cương lĩnh cho cả tập thơ:
                                Lòng nhân mừng có nghề y
                       Trải bao nghiêng ngả chưa khi xa rời
                                                                  ( Lánh loạn)
                               Đêm nay vất vả khôn cùng
                        Cứu người đâu có ngại ngùng gian nan
                                                               ( Thăm bệnh qua núi Thiên Nhẫn)
     Lấy chữ nhân của nhà Nho làm trọng, cụ thể hiện tinh thần nhân đạo trong từng khâu nghiệp vụ: chẩn đoán, suy luận dùng thuốc… Cụ không nề hà khó nhọc dù đêm hôm dù đang ốm yếu , dù đường xa, qua rừng núi, cụ thăm khám trực tiếp rồi mới cho đơn, kể cả trường hợp bệnh có thể lây lan như ghẻ lở. Đáng dùng thuốc gì, cụ dùng thuốc đó, dù là thứ đắt tiền, dù biết bệnh nhân sau này  không có khả năng chi trả. Có trường hợp khỏe rồi nhưng nghèo không có gì để sinh sống, cụ còn chu cấp thêm tiền gạo. Cụ nói: “Phần mình phải hết sức suy nghĩ, đem hết khả năng để làm kế tìm cái sống trong cái chết  cho người ta” (Âm án).
    Cụ ý thức sâu sắc rằng: Đối với thầy thuốc “Cái bệnh” là đối tượng số một. Bệnh nguy cần chữa trước, bệnh chưa nguy có thể để chậm lại sau, tùy trường hợp mà giải quyết kịp thời và chu đáo. Do xác định được đối tượng số một đó mà cụ Hải Thượng đặt sang một bên những diểm khác nhau giữa  giữa giàu với nghèo, quyền uy, định kiến, sở thích, thuật số.
     Cụ coi người bệnh là đối tượng cần quan tâm hàng đầu, cho nên gặp bệnh nặng thì hết lòng cứu chữa, bệnh gấp thì cứu chữa như cứu hỏa, bệnh nguy thì tìm cách cứu vãn  cho đến khi âm dương ly thoát mới đành chịu thôi. Cụ không tin thuyết định mệnh, dù thất bại trong trường hợp nào đó cụ cũng không đổ tại số mệnh như nhiều thầy thuốc khác. Kể  cả trường hợp có oán thù, nếu có, cũng không vì thế mà khác chí…” (Âm án).
   Cụ Lê Hữu Trác đặc biệt dành sự ưu ái đối với người nghèo. Cụ nói: “Nhà giàu không thiếu gì thầy thuốc, còn nhà nghèo khó lòng rước được lương y, vậy cần lưu tâm cứu chữa cho những người này thì họ mới sống được”. Cũng vì tấm lòng hết mình chữa bệnh cứa dân nghèo như vậy cho nên trong lần ra kinh đô chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán ở kinh đô, mặc dầu được nhà chúa cân nhắc ban cho danh tước, bổng lộc ở lại nhưng cụ vẫn nóng lòng tìm cách về núi. Tinh thần phục vụ của cụ đối với nhân dân, đặc biệt là người nghèo mãi là gương sáng để các thế hệ thầy thuốc sau này noi theo.
     Đối với phụ nữ, cụ giữ thái độ hết sức nghiêm túc. Cụ khuyên rằng: “Khi xem bệnh cho đàn bà, con gái, đàn bà góa, ni cô cần phải có người nhà ở bên cạnh mới bước vào buồng mà xem bệnh để tránh hết sự nghi ngờ. Dù cho đến hạng người buôn son bán phấn cũng vậy, cũng phải đứng đắn, coi họ như con nhà tử tế, chớ nên đùa cợt mà mang tiếng bất chính, sẽ bị hậu quả về tà dâm.
      Ở một phương diện  rất tế nhị như việc nhận quà cáp thì cụ nhận ra rằng: Thông thường ai giúp mình một việc gì, thì mình cám ơn người đó, huống hồ bệnh nặng, nguy, hoặc có thể chết được, người ta cứu cho thì ít nhiều mình có mang ơn. Nhân dân ta vốn có tính thuần hậu, không bao giờ quên ơn người đã giúp mình. Muốn bày tỏ lòng chịu ơn không thể nào không trả ơn bằng lời nói, vật chất, hoặc bằng việc làm, điều đó coi như hoàn toàn chính đáng và hợp tình, hợp lý, mà người bệnh không làm luôn tự thấy băn khoăn. Nhưng điều đáng chê trách là đôi khi món quà quá đáng đối với sự việc, hoặc quá lớn đối với  khả năng của người bệnh, hoặc kèm theo những động cơ không đúng, hoặc đem lại những hậu quả không trong sạch, lành mạnh. Những món quà không chính đáng có thể hạ thấp  phẩm chất thầy thuốc, biến thầy thuốc thành kẻ phụ thuộc, người nô lệ của vật chất hoặc uy quyền. Điều đó hoàn toàn trái với quan điểm: “Nghề thuốc là nghề thanh cao, ta càng phải giữ khí tiết cho trong sạch”. Khi chữa cho ai khỏi bệnh rồi, chớ cóm mưu cầu quà cáp, vì người nhận quà thường hay sinh ra nể nang, huống chi đối với những kẻ giàu sang tính khí thất thường, mình cầu cạnh hay bị khinh rẻ”. Những lời căn dặn cho thấy cụ Hải Thượng dụng tâm hành nghề chữa bệnh cứu người và suy nghĩ cặn kẽ đến mọi điều. Đúng như  phương châm xử thế  mà cụ đã thực hiện: “Quên mình cứu người, ngoài ra tất cả chỉ là mây bay
     Để gìn giữ điều nhân, tránh việc xằng bậy mà thầy thuốc dễ bề mắc phải, cuốn sách “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” cũng đưa ra những lời răn dạy những việc không được làm. Ở phần “Y huấn cách ngôn” có kể tên 8 tội của thầy thuốc cần tránh:
1. Lẽ ra phải thăm khám cẩn thận rồi mới bốc thuốc, lại ngại đêm hôm, mưa gió, vất vả không chịu tự mình đến thăm, cứ cho thuốc qua loa, đó là tội lười biếng.
2. Thấy bệnh cần dùng thứ thuốc nào đó mới cứu chữa được, song thầy lo người bệnh không đủ sức trang trải mà cho vị rẻ tiền hơn (ảnh hưởng đến hiệu quả chữa bệnh). Đó là tội keo kiệt.
3. Thấy bệnh đã có cơ nguy, nhưng thầy không bảo ngay cho gia đình biết sự thật, cứ ỡm ờ đến mãi để làm tiền. Đó là tội tham.
4. Thấy chứng dễ dãi lại nói là khó, nhăn mày thè lưỡi,dọa người ta sợ khiếp để lấy được nhiều tiền. Đó là tội lừa dối.
5. Nhận chứng thì lờ mờ, sức học thì nông cạn, thiên lệch, bốc thuốc thì công, bổ lộn xộn, đó là tội dốt nát.
6. Đã thấy đó là chứng khó, lẽ ra phải nói thật cho người nhà biết rồi ra sức mà chữa, lại sợ mang tiếng là người không biết chữa, vừa ngại không thành công không lấ được nhiều tiền nên không chịu nhận chữa cứ để mặc người ta bó tay chịu chết. Đó là tội bất nhân.
7. Có người thường ngầy bất bình với mình, khi có bệnh phải nhờ đến thì mình nẩy ý trả thù, không chịu hết lòng ra sức  trong lúc chữa bệnh. Đó là tội hẹp hòi.
8. Thấy người mồ côi, góa bụa, gia đình hiền, hiếu nhưng mắc cảnh nghèo túng, thấy ngại uổng công (không được bao nhiêu tiền) mà không dốc sức giúp đỡ. Đó là tội thất đức.
   Theo quan điểm của cụ Hải Thượng thì nghề y liên quan chặt chẽ với đức độ bản thân và  âm đức cho hậu thế. Cụ nói: “Đạo làm thuốc là một học thuật cao quý để giữ gìn mạng sống, cũng là đầu mối lớn lao về đạo đức chân chính” (Y đạo nãi vệ sinh chi chí thuật, thực đức chi đại đoan). Qua nghề y, người ta có thể bồi đắp được chữ đức cao dày. Nếu người đó thực sự giúp ích nhiều cho người bệnh. Nhưng nếu người đó lợi dụng nghề y để hữu ý hoặc vô ý làm những điều  có hại cho người khác thì dễ  mắc những điểm thất đức không nhỏ. Cụ phàn nàn: “Than ôi, đem nhân thuật làm chước dối lừa, đem lòng nhân đổi ra lòng buôn bán. Như thế thì người sống trách móc, người chết oán hờn, không thể tha thứ được”. Có thể nói: “Không có nghề nào nhân đạo bằng nghề y cứu sống người”. Cũng có thể nói rằng “Không có nghề nào vô nhân đạo bằng nghề y thiếu đạo đức”. Cụ cũng thường răn dạy học trò: “làm thầy thuốc mà không có lòng thương chung ( Chữ từ) giúp đỡ người khác (Chữ tế ) làm hằng tâm, không nghiền ngẫm sâu sắc tìm cách cứu sống người mà chỉ chăm chăm kể lợi công, lấy của hại người thì còn khác gì bọn giặc cướp”. Với tinh thần suốt đời dốc lòng chữa bệnh cứu người cụ đã đúc kết nên bốn điều mà thầy thuốc phải noi theo: Từ, Tế, Hoạt, Nhân. Theo cụ, mỗi thầy thuốc hàng ngày phải phải bồi đắp tám chữ  xây và chống lại tám tội. Được như vậy mới khỏi thẹn với hai chữ “Nhân thuật”.
      Như vậy có thể nói rằng: Cụ Hải Thượng Lãn ông không chỉ là một bậc đại danh y để lại cho đời những kiến thức vô giá về y học mà còn là một tấm gương sáng về đạo đức của người thầy thuốc. Tinh thần của của cụ đối với người bệnh sau này đã được Bác Hồ  khắc sâu bằng câu nói nổi tiếng: “Thầy thuốc như mẹ hiền”. Thiết nghĩ rằng: Những lời y huấn của cụ Lê Hữu Trác   và lời dạy của Bác như thế càng có ý nghĩa thiết thực hơn đối với đời sống xã hội chúng ta hôm nay khi mà những vấn đề về y đức đang trở thành điều bức xúc. Tất nhiên, với tất cả niềm thành kính tin yêu đối với những bậc tiền nhân, chúng ta tin tưởng và hy vọng vào một tiền đồ tươi sáng của nền y học nước nhà./.  

                                                                                                                               Tác giả: Vinh Trần
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
Trang thông tin chính thức của Trường THPT Lê Hữu Trác 1
Chịu trách nhiệm nội dung: Phan Hữu Quyền - Điện thoại : 0976.973.465
Địa chỉ: xã Sơn Châu, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Email: thpt.lehuutrac1@gmail.com