Danh mục

Thăm dò ý kiến

Bạn thấy giao diện mới này như thế nào?

Xấu

Bình thường

Đẹp

Đăng nhập

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 4


Hôm nayHôm nay : 1973

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 63576

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3146624

Trang nhất » Tin Tức » Tin tức

LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG NHÀ TRƯỜNG

Thứ bảy - 17/12/2016 18:25
 LỜI GIỚI THIỆU
         Hương Sơn là một địa danh lịch sử, được Lê Thánh Tông niên hiệu Quang Thuận thứ 10 năm 1469 đổi tên từ Đỗ Gia (thời Lý) thành Hương Sơn. Trải qua 545 năm với tên gọi Hương Sơn, tuy có nhiều cách giải thích khác nhau như "Núi thơm" hay "Làng trong núi" nhưng Hương Sơn là mảnh đất " Địa linh, nhân kiệt"
         TrườngTHPT Lê Hữu Trác được hình thành trên quê hương giàu truyền thống cách mạng, lớn lên bằng sự chở che của những tấm lòng ân nghĩa với quê hương nên nơi đây đã hun đúc nên những con người giàu nhiệt huyết, đầy bản lĩnh, rất năng động nhưng cũng rất đổi ân tình
          Trải qua bao thăng trầm của cuộc sống nhưng thế hệ đi sau luôn tiếp nối, gìn giữ những thành quả của người đi trước, tìm tòi và học hỏi để thực hiện những hoài bão còn dang dở.
          Dù trải qua bao nhiêu năm tháng nhưng lòng người vẫn thủy chung với tình yêu nghề, yêu người được truyền từ thế hệ trước đến thế hệ sau. Những thầy cô ngày ấy không còn nhiều, có người nghỉ hưu, có người khi đến tóc xanh giờ tóc đã bạc, có người đi mãi không về…Tre già măng mọc – thế hệ chúng tôi hôm nay đã và đang cùng người đi trước viết nên trang sử vàng trong truyền thống nhà trường.
Xác định nhiệm vụ và tầm quan trọng của việc làm trên, năm học 2016 -2017 trường THPT Lê Hữu Trác tiến hành biên soạn cuốn “Lịch sử truyền thống nhà trường”.
 Cuốn “Lịch sử truyền thống nhà trường” được Ban biên soạn dày công thu thập tài liệu, lựa chọn thông tin, hình ảnh nhằm thể hiện sinh động, chân thực truyền thống nhà trường. Đây là sản phẩm có giá trị giáo dục truyền thống cho thế hệ cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh hôm nay và các thế hệ tương lai.
            Xin chân thành tri ân những tình cảm của các cấp lãnh đạo, các quý thầy cô, các bậc phụ huynh, các em học sinh và bè bạn gần xa đã dành cho trường THPT Lê Hữu Trác - ngôi nhà chung ấm áp của nhiều thế hệ.
                                          
 
PHẦN THỨ NHẤT
HƯƠNG SƠN – VÙNG ĐẤT “ĐỊA LINH, NHÂN KIỆT”
 
          Nơi hội tụ linh khí trời, đất...
          Hương Sơn là vùng đất có rừng rậm đại ngàn, có rừng thưa. Địa hình nơi đây như cái lòng chảo lọt giữa vòng cánh cung, nơi có nhiều ngọn núi nhô lên tròn như những chiếc nhẫn, có những điểm núi chồng núi tạo nên những hình ảnh đẹp. Thiên nhiên, địa lý, phong thổ nơi đây đã tích tụ vào các loài cây, cỏ, hoa, trái như: chè, cam, quýt, bưởi, mít, dứa... mà nhân dân Hương Sơn vẫn luôn tự hào: "Nhất mẫu trạch bằng bách mầu điền". Đặc biệt, hương đất, khí trời nơi đây đã hội tụ thành "Nguyên khí" mà không nơi nào có được. Vào năm 1750 của Thế kỷ XVIII vùng đất Hương Sơn là nơi mà Đại danh y Hải thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác tìm về sinh sống với mảnh đất quê mẹ. Từ đó, Ông đã hòa quyện với thiên nhiên lập nên "Núi Giả, hồ Sen" để ngắm trăng, hóng gió, đàm đạo thơ ca, ngày đêm miệt mài với cỏ, cây, hoa lá góp nhặt và đưa những cây cỏ vô danh của miền đất Hương Sơn thành 300 vị thuốc nam, tổng hợp thêm 2.854 phương thuốc quý, để lại cho đời bộ sách " Hải Thượng y tông tâm lĩnh với 28 tập, 66 quyển" và  tấm gương sáng chói về y đức, y đạo, y thuật có giá trị cho muôn đời sau. Đất, trời Hương Sơn đã hội tụ nên sản phẩm Nhung hươu mà người dân hay gọi là "Lộc trời" rất bổ dưỡng, tốt cho sức khỏe con người và chỉ có mảnh đất Hương Sơn mới có cây cam Bù nổi tiếng với đặc trưng tép to, bóng, mềm, mọng nước, ăn rất thơm, ngọt, mát và bổ là món quà quý hiếm mà thiên nhiên ban tặng cho mảnh đất, con người Hương Sơn.
        Vùng đất Hương Sơn còn là nơi nổi tiếng với những nét văn hóa ẩm thực, nơi sinh ra ông tổ của món kẹo Cu đơ nổi tiếng. Từ sản phẩm nông nghiệp như mật mía Văn Giang, lạc, vừng của vùng hạ huyện ông Cu Hai (Cu đơ) ở vùng Thịnh Văn (Sơn Thịnh) đã làm nên kẹo Cu đơ nổi tiếng trong vùng.
        Trong lần về Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 Al) năm 2013, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh Võ Kim Cự đã dâng lễ vật lên Quốc Tổ và đã chọn hai sản phẩm đặc sản quý giá nhất của Hà Tĩnh là kẹo Cu đơ và rượu Nhung hươu đều có khởi nguồn từ mảnh đất Hương Sơn.

"Chè xanh thêm chút gừng cay
Cu đơ thơm ngọt làm say lòng người".
        Vùng đất địa linh...
        Hương Sơn là vùng đất mà Lê Lợi - thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã chọn nơi làm "đất đứng chân" khi tiến vào vùng đất Đỗ Gia để phát triển lực lượng chống lại giặc Minh xâm lược và lập nên triều đại nhà Lê vào Thế kỷ XV. Nơi đây còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử văn hóa cho thấy sự đa dạng trong sinh hoạt đời sống văn hóa tâm linh, tín ngưỡng của nhân dân. Đền Đức Mẹ là ngôi đền cổ tương truyền có từ đời vua Lê Hiển Tông, niên hiệu cảnh Hưng (1740- 1786), khởi thủy chỉ là một hòn đá thiêng gọi là Thạch Bàn Nhẫn nằm trên núi Phượng Hoàng một phần của dãy núi Thiên Nhẫn, bên bờ con sông Ngàn Phố. Từ một hòn đá thiêng nhân dân trong vùng đã gửi gắm tâm linh vào đó rồi dần dần trở nên linh ứng. Tại xã Sơn Trà có di tích Đền Cả, tương truyền, đây là di tích được xây dựng vào thời nhà Lý thờ Lý Nhật Quang được gọi là Kê Quan Sơn Đại Vương, Hồng Tự thượng thượng đẳng thần, tối linh từ. Ông là một nhà chính trị có tài, một tướng lĩnh tài ba là con thứ 8 của vua Lý Thái Tổ - một hoàng tử lỗi lạc được phong tước Uy Minh Vương, đây là một di tích rất hiếm còn sót lại đến ngày nay bởi do tác động của thiên tai, địch họa và sự tàn phá của con người. Đền Phúc lai, xã Sơn Bằng là ngôi đền cổ thờ thần Tam Lang. Theo truyền thuyết thì Tam Lang là 3 con rồng, con Hùng Hải (em Hùng Vương thứ 3) do mẹ con Trang hoa sinh ra trên một chiếc thuyền giữa ngã ba Bạch Hạc, sau này làm thủy thần còn gọi là Nhất Lang, Nhị Lang, Tam Lang long vương; Tam lang là chàng Ba của vua Hùng được sai làm thần ở sông Bạch Hạc. Thần Tam Lang- thần rắn được thờ ở đền Phúc Lai làm thành hoàng là tín ngưỡng thờ thần của vùng cư dân nông nghiệp lúa nước. Ngoài ra, trên địa bàn Hương Sơn đến nay có 41 di tích được xếp hạng cấp Nhà nước, các di tích đã khắc sâu đời sống tâm linh của mảnh đất nơi đây như: Động Tiên Hoa, Thành Lục Niên, đền Trúc, nhà thờ Trần Giác Linh, đền Kim Cương, đền Gôi Vỵ, đền Bạch Vân - Chùa Thịnh Xá, các di tích tôn giáo như: chùa Nhiễu Long, chùa Côn Sơn, chùa Tượng Sơn, Chùa Yên Mã.... và nhiều câu chuyện kể trong dân gian như: Chuyện về cây Thị tại xã Sơn Phúc, chuyện núi Nhà Chàng, đồi Đảng Phủ, rú Sinh Cờ tại xã Sơn Bình, Sơn Châu v.v…là những câu chuyện cổ tích mà nhân dân đã gửi gắm niềm tin yêu, sự thán phục vào những người anh hùng đã có công với dân, với nước lúc bấy giờ
         ... sinh ra các anh hùng hào kiệt
        Con người Hương Sơn luôn hòa mình với thiên nhiên và đương đầu với sự khắc nghiệt của thiên nhiên cùng với các cuộc chiến tranh nên thời nào cũng xuất hiện các anh hùng hào kiệt. Khi Lê Lợi tiến vào đất Đỗ Gia đã quy tụ nhiều nghĩa quân tham gia chống giặc Minh xâm lược và đã xuất hiện tướng quân Nguyễn Tuấn Thiện, Nguyễn Lỗi là những vị khai quốc công thần triều Lê được Vua ban quốc tính vì đã có công to lớn trong việc xây dựng triều chính. Mảnh đất Hương Sơn nơi hội tụ "linh khí trời đất" để Lê Hữu Trác tìm về chốn "Thâm sơn cùng cốc" học nghề làm thuốc và đã trở thành Bậc đại danh y, không những thế Ông còn trở thành nhà thơ tài hoa, nhà văn xuất sắc, nhà tư tưởng đức độ đầy tính nhân văn. Chính mảnh đất này đã sinh ra các "nhân kiệt" sống mãi với thời gian như: Cao Thắng, Nguyễn Lân, Nguyễn Ngọc Khiêm, Nguyễn Trọng Xuyến là những tướng quân tham gia vào cuộc khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo.
        Trong tiến trình lịch sử của dân tộc đã xuất hiện nhiều danh nhân làm rạng danh vùng đất Hương Sơn như: Thượng thư Đào Hữu Ích (1839- 1899),  Tiến sĩ Lê Mậu Tài (1616), Đô ngự sử Tiến sỹ Nguyễn Tử Trọng (1485), Tiến sỹ Đinh Nho Công, danh sỹ Lê Hầu Tạo, Phú lân hầu ích Quang điện Phạm Phúc kinh  và Điền nhạc hầu Nguyễn Điều....
          Trong công cuộc xây dựng đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng nhiều người con của Hương Sơn đã trở thành những nhà nghiên cứu, nhà lãnh đạo cao cấp của đất nước như: Giáo sư Lê Xuân Tùng , nguyên ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Thượng tướng Lê Minh Hương , nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an ; Giáo sư, Viện sĩ y học Phạm Song, nguyên Bộ Trưởng Bộ Y tế ; nguyên Phó ban Tuyên giáo Trung ương Hà Học Hợi ; nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đinh Nho Liêm; Giáo sư sử học Đinh Xuân Lâm ; Giáo sư - nhà ngôn ngữ học Lê Khả Kế ; Giáo sư, Viện sĩ toán học Hà Huy Khoái , Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam ;Giáo sư , TSKH Lê Xuân Anh; Trung tướng, Giáo sư Lê Xuân Lựu ; Giáo sư, TSKH Nhà giáo Nhân dân Cù Xuân Dần , nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội ; Giáo sư Đinh Quang Báo , nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội ; TS Trần Việt Thanh, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, PGS.TS. Nguyễn Xuân Lý - Cục trưởng Cục Cảnh sát môi trường Bộ Công an…
 
PHẦN THỨ HAI
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ TRƯỜNG
(1972 – 2016)
Tập thể cán bộ giáo viên nhà trường.
 
      I. SỰ HÌNH THÀNH
      Mùa hè năm 1972 là thời kỳ ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta. Máy bay giặc Mỹ liên tục bắn phá miền Bắc, đặc biệt là các tỉnh thuộc khu IV cũ. Hà Tĩnh nằm trong những vùng ác liệt đó. Hương Sơn với con đường 8 kéo dài đến biên giới nước bạn Lào là trọng điểm đánh phá của máy bay giặc Mỹ.
      Để đảm bảo an toàn cho con em vùng hạ Hương Sơn được thuận lợi đến trường trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh và Ty Giáo dục (Sở Giáo dục bây giờ) quyết định thành lập Trường cấp 3 hạ Hương Sơn lấy tên Đại lương y Lê Hữu Trác.
     Theo lời kể lại của nhà giáo Nguyễn Hữu Hiệu – Cựu giáo viên Lê Hữu Trác thời kỳ 1972 – 1975: Cơ sở ban đầu của trường là Lòi Mây – Sơn Bình, mọi người về đây lấy nhà thầy giáo Nguyễn Xuân Mạnh làm trụ sở đầu tiên để cho phụ huynh học sinh đóng góp tranh tre  xây dựng trường lớp. Chúng tôi từ các vùng được điều động về đây. Tôi còn nhớ lời động viên của ông trưởng Ty Giáo dục lúc đó – Ông Nghiêm Trung nói : “Mọi người sẽ ở bên các thầy cô, mong thầy cô đồng tâm hiệp lực xây dựng trường mới để kịp khai giảng như các trường khác trong tỉnh”. Đích thân ông phó Ty Giáo dục lúc đó – Ông Trần Đình Tiêu vào tận Lòi Mây đứng xem chúng tôi xây dựng lán trại. Thầy Võ Văn Nhã là giáo viên văn của Trường cấp 3 Hương Sơn, sau này là Hiệu phó của trường là người đề ra chỉ tiêu và số lượng vật liệu để phụ huynh đóng góp. Mỗi học sinh từ lớp 8 (ngang với lớp 10 bây giờ) mới thi tuyển vào cho đến các em lớp 9 từ cấp 3 Hương Sơn chuyển về đều phải đóng 2 cây tre và 10 tấm tranh lá cọ. Tiêu chuẩn tre mà thầy Nhã đề ra là : To – Thẳng – Dài (không phải là tre cụt ngọn). Tôi không hiểu thế nào là tre cụt ngọn nhưng cứ theo yêu cầu của thầy Nhã để thu. Tranh thì phải đủ 10 chót (mỗi chót là ½ lá cọ lớn gấp lại). Tội nhất là các em mới vào lớp 8, người thì bé loắt choắt mà phải vác tranh tre từ các xã Sơn An, Sơn Hòa, Sơn Tiến… về nộp. Một hình ảnh làm tôi quặn lòng : một ông cụ râu tóc bạc phơ vác hai cây tre lớn, trên đó buộc 10 cái tranh lá cọ, mồ hôi ướt sủng áo và quyện chặt râu tóc ông cụ, chạy theo sau là một cậu bé loắt choắt. Đặt tranh tre xuống, ông cụ nói : “Cha nó đi bộ đội, mẹ đi cấy cho Hợp tác, tôi là ông nội nó nghe nó đậu lớp 8 tôi mừng quá, chọn 2 cây tre to nhất bụi tre nhà tôi để nạp cho trường làm lán cho chúng nó học, xin thầy nhận cho”. Tôi nghẹn lời không kịp cảm ơn cụ mà cũng quên không mời cụ uống nước. Hương Sơn hồi đó ai cũng đói, chúng tôi có bao giờ được ăn no đâu nhưng nước chè xanh thì nhiều lắm, nhà nào cũng có. Tối nào cũng râm ran tiếng gọi nhau : “Mời bà con sang nhà tôi uống nác”, nghe tiếng mời mọc làng quê sao nghe thân thương lạ.
    Mấy anh em ban đầu chúng tôi có : Anh Nhã, cô Biên, thầy Thân (GV Thể dục), cô Thường (GV Sinh vật), sau đó là thầy Lương Thiều dạy văn từ trường Lý Tự Trọng chuyển về, thầy Đào Thiều dạy Toán, thầy Tống Trần Đậu dạy Chính trị và nhiều thầy cô khác lần lượt về trường. Lúc này thầy Văn Đình Chính ở Trường Sư phạm 10 + 3 có quyết định về làm hiệu trưởng. Các ban bệ xây dựng trường được củng cố. Là giáo viên Văn nhưng khéo tay, thầy Lương Thiều được chọn làm trưởng ban kiến thiết. Tôi, thầy Nhã, cô Biên, cô Thường, thầy Thân lo về vật liệu, số lượng tranh tre học sinh đóng góp không đủ xây dựng lán học, thầy trò chúng tôi phải lên Sơn Tây chặt nứa để xuôi bè về làm vách, làm lán. Ngồi trên bè thầy Thân hứng chí đọc :
                                            Bè ta xuôi sông La
                                           Dé cau cùng táu mật
                                            Lát mun cùng lát hoa (Thơ Vũ Duy Thông)
                                           Ta cùng xuôi sông La
                                           Cùng tranh, tre, mây, nứa
                                           Dựng lán xây trường ta.
                                          Để yên lòng người đi xa.
    Cuối cùng thầy trò chúng tôi cũng xây dựng được 8 lán học ở Lòi Mây – Sơn Bình và bước vào khai giảng năm học 1972 – 1973 đúng yêu cầu cấp trên đề ra. Ngày đó khổ mà vui, cô Biên, cô Phương ngoài việc lo xây dựng còn phải làm việc nội trợ của một người chị nuôi lo cơm nước cho mọi người. Tình cảm thầy Nhã – cô Phương chắc bắt đầu từ những bữa cơm đạm bạc mà ấm tình người đó. Ngày đó gian khổ lắm, mỗi giáo viên hàng tháng chỉ được mua 500g thịt, mấy lạng đường, mì chính (bột ngọt) chỉ được mấy chục gam. Tết năm đó được vợ thầy Chính mời cả Hội đồng ăn một bữa cỗ có đầy đủ thịt cá (vợ thầy Chính chăn nuôi được), tôi tưởng chưa bao giờ có bữa ăn ngon như vậy, cứ nhớ mãi đến bây giờ.
    Gần hết niên khóa 72 – 73, trường dời địa điểm một lần nữa. Hiệp định Pari được ký kết, Mỹ ngừng ném bom miền Bắc, chúng tôi rời Lòi Mây ra Sơn Hà xây trường mới. Nằm cạnh đập Choi địa hình bằng phẳng thuận lợi hơn. Tại đây chúng tôi có một kỷ niệm với “ông già Xẻo Đước”(tên do thầy Nhã đặt). Ông cụ nhất định không cho xây dựng lán học cạnh vườn ông, lấy lí do “sợ máy bay thấy đông người đến ném bom”. Thầy Hiệu trưởng và các thầy cô lớn tuổi phải thuyết phục mãi. Từ đập Choi Sơn Hà, khóa học sinh đầu tiên tốt nghiệp ở đó, những học sinh thời đó sau khi tốt nghiệp họ đã ra đi, có những người vào quân ngũ ra chiến trường và không bao giờ trở lại nữa. Họ mãi mãi là những chàng trai cô gái tuổi hai mươi, cũng có người trưởng thành trở thành cán bộ chủ chốt của các ngành. Giờ đây, sau 40 năm tóc họ cũng đã bạc trắng như thầy cô. Có một lần thầy trò họp mặt, anh Nguyễn Văn Thư – Giám đốc TT Quản lí Tần số Việt Nam khi giới thiệu thầy cô có đùa vui một câu “Ai đứng dậy là thầy cô chứ ngồi là không phải thầy cô đâu, học sinh đó nghen”, cả khán phòng cười ầm…
    Thương nhất là các em năm học 72 – 73, mới xây dựng trường xong, học được hơn tháng là lên đường nhập ngũ. Anh Nguyễn Xuân Hùng (Hiện là Trưởng phòng thuế huyện Hương Sơn) con thầy Mạnh dạy Sinh Vật cũng ra đi lần đó. Tôi và thầy tiễn em lên đường, thầy Mạnh không khóc nhưng tôi lại khóc. Hùng là người cùng tôi thu cây tre, cái tranh đầu tiên để xây dựng trường, em là học sinh lớp 9 nhưng thạo việc như người lớn, tôi ở trong nhà em, trước nhà có cây bưởi, đi làm về em thường lựa chọc cho tôi trái bưởi to ngon nhất. Tình thầy trò lúc đó sao mà sâu nặng…
   Tháng 1/1973, Hiệp định Pari về Việt Nam được ký kết, quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam, nhà trường nhanh chóng xin tỉnh chuyển địa điểm từ nơi sơ tán về Cửa Khâu, Sơn Hà, vùng đất thuận tiện hơn, gần đường 8, sát bờ sông Phố. Mùa hè năm 1973 lại là một mùa hè lao động khẩn trương và vất vả. Thầy trò đã cùng nhau ngược ngàn lên tận Sơn Hồng, Sơn Tây, Sơn Lĩnh chặt gỗ, nứa, lá…cánh bè về xuôi để dựng nhà làm lớp học. Đã có rất nhiều kỷ niệm về thời gian khó này. Và hơn hết, bài học tự lực cánh sinh kết hợp với sự giúp đỡ của phụ huynh và nhân dân là bài học quý báu trong buổi ban đầu để tự khẳng định mình của trường ta.
II. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
       1. Giai đoạn từ năm 1972 đến 1978: vừa củng cố, bổ sung xây dựng cơ sở vật chất, nhà trường vừa tổ chức nhiều hoạt động chuyên môn để từng bước nâng cao chất lượng dạy và học. Các tổ chuyên môn sớm đi vào nề nếp. Các lớp chọn, lớp chuyên được thành lập và bồi dưỡng. Đội ngũ giáo viên nhà trường lúc bấy giờ chủ yếu là từ nơi khác chuyển về, nhiều người có năng lực và kinh nghiệm giảng dạy tốt, say mê, tâm huyết với nghề. Học sinh chủ yếu là con em nông dân, tuy khó khăn nghèo đói nhưng rất hiếu học. Vì thế ngay từ những mùa đầu tiên kết quả thu hoạch đã rất lạc quan. Tỷ lệ tốt nghiệp năm nào cũng từ 65 - 75%, nhiều em đỗ vào đại học như khóa 1972 – 1975 có đến 15 em, một con số rất cao so với mặt bằng cả tỉnh hồi đó. Mục tiêu giáo dục toàn diện và nguyên lí học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất luôn được nhà trường coi trọng. Chính vì thế học sinh không chỉ được trang bị kiến thức sách vở mà còn làm quen với thực tế đời sống, rèn luyện được tinh thần vượt khó vươn lên, nhà trường có được sản phẩm lao động để xây dựng củng cố cơ sở vật chất. Những năm 1975 – 1976, liên kết với HTX Sơn Hà làm gạch nên có sản phẩm để xây dựng văn phòng, những năm 1977 – 1978, đi khai hoang ở Sơn Thủy, trồng sắn trồng khoai cứu đói, rồi giúp đồng bào vùng di dân dời nhà cửa, cây cối đến nơi ở mới…
   2. Giai đoạn từ năm 1978 đến năm 1991: Năm 1978, năm có trận lụt lịch sử, trường dời địa điểm từ Sơn Hà về Nầm – nơi hiện nay trường đóng. Vẫn là công tác xã hội hóa giáo dục. Cứ mỗi dãy phòng học cấp 4 được chia cho phụ huynh và nhân dân 2 xã trong vùng thi công. Gạch ngói tự đóng  đưa đến, cát sỏi chở từ bãi sông về, các bậc cha mẹ học sinh, người có tay nghề thì cầm bai, cầm thước, người chưa quen việc thì xúc cát phụ hồ, tất cả đều nhiệt tình và đầy trách nhiệm. Chính vì thế dù nguồn kinh phí ngân sách nhà nước không nhiều nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, nhà trường đã có một cơ ngơi tương đối khang trang với 24 phòng học cấp 4 cùng các nhà làm việc của văn phòng được xây bằng gạch ngói đàng hoàng. Hầu hết các công việc như làm mặt bằng, vận chuyển đất đá, nguyên vật liệu, đều do thầy cô và học sinh lao động tự làm. Tuy cơ sở vật chất khang trang thuận lợi cho công tác dạy và học hơn nhưng giai đoạn từ 1978 đến 1982  là giai đoạn khó khăn u ám nhất của nhà trường về chất lượng giáo dục. Đó dường như cũng là khó khăn chung của toàn tỉnh toàn ngành. Đất nước vừa ra khỏi chiến tranh thì lâm vào khủng hoảng kinh tế xã hội. Cuộc sống của nhân dân hết sức khó khăn. Đời sống của giáo viên vô cùng vất vả. Ngành giáo dục như lâm vào bế tắc. Số lượng phát triển nhanh trước sức ép của xã hội thì chất lượng ngày càng giảm sút cả về đạo đức và văn hóa, thi cử thì hết sức lộn xộn. Tinh thần thái độ học tập của học sinh cũng như niềm tin của nhân dân giảm sút. Từ năm 1978, trường Lê Hữu Trác chúng ta có sự phát triển nhanh về số lượng, từ 18 lên đến 30 lớp với hơn 1500 học sinh vào năm 1982. Nhưng 4 năm trời khó khăn ấy, có năm không một em học sinh nào đậu vào đại học. Từ BGH đến mỗi giáo viên mọi người đều trăn trở, đề ra các biện pháp để nâng cao chất lượng giờ dạy, thay đổi cách thức sinh hoạt chuyên môn, đề ra nhiều phong trào để động viên học sinh thi đua rèn luyện đạo đức, chăm chỉ học tập. Công đoàn nhà trường vất vả tìm cách cải thiện đời sống cho cán bộ giáo viên. Hội phụ huynh cũng thường xuyên chăm lo giúp đỡ thầy cô. Hồi bấy giờ, Nầm là trung tâm của huyện, các cơ quan Đảng và chính quyền đều đóng ở nơi đây nên mặc nhiên trường Cấp 3 Lê Hữu Trác trở thành trường trọng điểm. Đảng Bộ, nhân dân và phụ huynh ngày tháng trông đợi vào một sự đổi thay chuyển biến của nhà trường. Một điều đáng mừng là, tuy khó khăn chồng chất nhưng hơn 90 cán bộ giáo viên nhà trường một lòng đoàn kết, nhất trí dưới sự lãnh đạo của chi bộ, của BGH, quyết tâm vượt qua thử thách. Không một ai bỏ trường, bỏ lớp, bỏ việc. Kỷ luật chuyên môn, kỷ luật công tác được đề cao. Toàn trường tập trung cao độ thực hiện nghị quyết của chi bộ đề ra là : Lập lại kỷ cương trong thi cử, làm tốt công tác tuyển sinh, nâng cao chất lượng mũi nhọn trên cơ sở chất lượng đại trà, xóa mất trắng đại học.
        Lúc này lại có một khó khăn mới xuất hiện đó là nhà trường phải thành lập một phân hiệu 2 ở Sơn Hòa với 12 lớp (phân hiệu chính ở Nầm 18 lớp) để tạo sự thuận lợi trong việc đi lại cho học sinh 6 xã tả ngạn sông Phố. Việc lãnh đạo quản lí điều hành của chi bộ và BGH cũng như các tổ chuyên môn có khó khăn hơn nhưng mọi người đều quyết tâm thực hiện tốt nhiệm vụ đặt ra. Nhiều cuộc họp chuyên đề, hội thảo về nâng cao chất lượng giáo dục được Sở tổ chức đã giúp nhà trường có thêm những biện pháp linh hoạt để thực thi nhiệm vụ. những thầy cô giáo giỏi nhất được lựa chọn, những học sinh có năng lực nhất được tập trung, các nguồn lực tốt nhất bấy giờ đều được lãnh đạo nhà trường tạo điều kiện để các thầy cô và học sinh toàn tâm toàn ý vào chuyên môn dạy học. và trời đã không phụ lòng người. Năm 1983 đã có 2 học sinh đậu vào đại học. Tuy số lượng còn ít ỏi nhưng nó có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, chấm dứt chuỗi 4 năm đen tối, mở ra một tương lai tươi sáng đem lại niềm tin phấn khởi cho cả nhà trường và nhân dân. Từ đó về sau, năm nào cũng có học sinh đậu đại học, năm sau thường cao hơn năm trước. Kỷ cương trong thi cử cũng dần được lập lại, nhà trường vượt qua được sức ép của xã hội trong tuyển sinh, tiến hành tuyển sinh công khai, dân chủ, công bằng và có chất lượng, tạo tiền đề cho việc thi đua dạy tốt, học tốt, tạo đà phấn khởi cho toàn trường tiến lên trong giai đoạn mới.
         Ban giám hiệu vừa có năng lực quản lí vừa giỏi chuyên môn, luôn gương mẫu đi đầu. Cơ sở vật chất từng bước được đầu tư, cả nguồn nhà nước và đóng góp của nhân dân. Phong trào thi đua dạy tốt học tốt đã đi vào chiều sâu. Các tổ chuyên môn hoạt động chất lượng, trình độ giáo viên được nâng cao đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng học sinh thi vào đại học và thi học sinh giỏi kết quả cao.
   3. Giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2016: Có thể nói trong vòng 10 năm từ 1991 đến 2001 trường THPT Lê Hữu Trác có bước chuyển mình mạnh mẽ và đạt được những kết quả rất đáng phấn khởi. Quy mô nhà trường đi vào thế ổn định trong khung từ 21 đến 24 lớp với trên 1000 học sinh, chất lượng giáo dục ổn định và vững chắc. Tỉ lệ học sinh đậu tốt nghiệp hàng năm cao trên 90%, nhiều em đạt loại giỏi. Số học sinh đậu vào đại học cao đẳng từ 30-40 em, đặc biệt từ năm 1998-2000 có 192 em đậu đại học. Cũng trong thời gian này nhà trường có 2 chiến sĩ thi đua và 9 giáo viên giỏi cấp tỉnh, đúc rút 30 sáng kiến kinh nghiệm và đề tài khoa học được Hội đồng khoa học Sở giáo dục – đào tạo công nhận, liên tục nhiều năm liền đạt danh hiệu trường tiên tiến cấp tỉnh và đến năm 2002 được nhận bằng khen của Thủ tướng chính phủ. Trong không khí vui tươi, phấn khởi, lạc quan, thể theo nguyện vọng của đông đảo giáo viên và học sinh cũ trên khắp mọi miền đất nước, năm 2002, nhà trường long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 30 năm thành lập. Dẫu còn nhiều khó khăn, nhất là sau đợt lũ lịch sử 2002 nhưng Lễ kỉ niệm tổ chức rất thành công ( Các thế hệ học sinh trong Nam ngoài Bắc bấy giờ đã tìm về trường cũ trong 1 đại lễ hết sức tưng bừng hoành tráng nhưng cũng thật thân mật đằm thắm nghĩa tình). Đây không chỉ là dịp bạn bè, thầy cô gặp lại nhau sau bao năm trời xa cách, là dịp các thế hệ học sinh tri ân công lao dạy dỗ của thầy cô, của nhà trường mà kỉ niệm 30 năm thành lập thực sự là một dấu mốc quan trọng có ý nghĩa tạo ra một bước ngoặt lịch sử trong sự phát triển đi lên của nhà trường.
Lễ kỷ niệm 30 năm thành lập trường
         Sau năm 2002, trường THPT Lê Hữu Trác thực sự bước sang một vị thế mới, ở một tầm cao mới. Có thể chính lòng tự hào về ngôi trường truyền thống với những thành tích mà nhà trường đạt được đã tiếp thêm sức mạnh và niềm tin cho thầy trò nhà trường phấn đấu vươn lên đạt được những thành công rực rỡ trong giai đoạn tiếp theo. Năm 2003, trường THPT Lê Hữu Trác có sự thay đổi về tổ chức, Thầy Phan Xuân Cát – Hiệu trưởng, Thầy Phan Cao Hòa – Hiệu phó, Thầy Hồ Đức Vĩnh – Bí thư Đoàn trường được điều chuyển lên thay thế BGH trường THPT Hương Sơn, Thầy Trịnh Văn Huệ từ Lê Hữu Trác 2 sang làm Hiệu trưởng, Thầy Phan Hữu Quyền – Hiệu phó. Ban giám hiệu mới cùng tập thể cán bộ giáo viên xác định tăng cường đầu tư hơn nữa hoạt động chuyên môn, coi đây là điều kiện then chốt để nâng cao chất lượng. Các cuộc hội thảo chuyên đề về đổi mới phương pháp giảng dạy với quy mô khác nhau, từ tổ, lớp đến trường, liên trường đã đưa hoạt động chuyên môn đi vào chiều sâu và có hiệu quả lớn. Tỉ lệ học sinh đậu vào đại học cao đẳng tăng vọt, năm 2006 xếp thứ 3 toàn tỉnh và là 1 trong 100 trường có tỉ lệ đậu đại học cao nhất toàn quốc. Liên tục trong nhiều năm liền, kết quả thi học sinh giỏi, học sinh đậu vào đại học đều đứng đầu huyện và nằm trong những trường dẫn đầu của tỉnh. Song song với hoạt động chuyên môn, nhà trường cũng triệt để quan tâm đến công tác giáo dục đạo đức, giáo dục truyền thống và hướng nghiệp cho học sinh, chú trọng công tác xã hội hóa kết hợp với các tổ chức đoàn thể khác trong và ngoài nhà trường ngăn chặn sự xâm nhập của các tệ nạn xã hội vào học đường, phát động sâu rộng các cuộc vận động “Dân chủ,- Kỉ cương - Tình thương - Trách nhiệm” và “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”…Về cơ sở vật chất, được sự hỗ trợ từ ngân sách cùng với nguồn huy động từ nhân dân, sự giúp đỡ của các thế hệ học sinh cũ, nhà trường đã xây dựng được nhiều công trình kiên cố, hiện đại như nhà thực hành thí nghiệm, nhà học cao tầng, khu nhà hiệu bộ, đầu tư mua sắm các trang thiết bị như máy chiếu, máy vi tính, thiết bị thực hành thí nghiệm…khuôn viên nhà trường được cải tạo nâng cấp theo hướng hiện đại tạo môi trường xanh - sạch - đẹp…Năm 2006, trường THPT Lê Hữu Trác chính thức được công nhận trường chuẩn quốc gia, là 1 trong 4 trường THPT đạt Chuẩn đầu tiên của tỉnh Hà Tĩnh. Năm 2011 tiếp tục được công nhận là trường chuẩn quốc gia giai đoạn 2011 – 2016.
        Năm học 2011 – 2012, trường có 28 lớp với 1280 học sinh, 70 cán bộ giáo viên, chất lượng giáo dục đạt kết quả cao: có 50 em đạt HSG cấp tỉnh, 100% học sinh đậu tốt nghiệp và gần 200 em học sinh đậu đại học – Trường đạt danh hiệu trường tiên tiến xuất sắc. Và vào dịp kỉ niệm 40 năm thành lập, chúng ta vinh dự đón nhận Huân chương lao động hạng Ba do Chủ tịch nước trao tặng. Đó là một phần thưởng vô cùng cao quý, là sự ghi nhận một quá trình phấn đấu gian khổ, bền bỉ trong suốt 40 năm của nhiều thế hệ cán bộ quản lí, nhiều thế hệ giáo viên và sự nỗ lực học tập của học sinh nhà trường.
 
Nhà trường vinh dự đón nhận
                Huân chương lao động hạng Ba nhân kỷ niệm 40 năm thành lập.
                                                                         
 
KẾT LUẬN
 
            Trong chặng đường gần nửa thế kỷ hình thành, phát triển và trưởng thành. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền huyện Hương Sơn, Sở giáo dục và Đào tạo Hà Tĩnh, các thế hệ giáo viên và học sinh đã phát huy truyền thống cách mạng của quê hương Hương Sơn để vượt lên những thử thách, mất mát, đau thương mà trưởng thành.
Là một huyện miền núi vốn nghèo khó, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thiên tai khắc nghiệt đe dọa… Trong hoàn cảnh đó trường THPT Lê Hữu Trác có được như hôm nay là niềm tự hào của các thế hệ thầy cô giáo và học sinh của nhà trường.
Có thể thấy rằng: trường THPT Lê Hữu Trác cũng như bao ngôi trường khác trên quê hương Hương Sơn trải qua bao thăng trầm, gian khó. Vượt qua bao khốn khó của chiến tranh, trưởng thành trên mảnh đất đầy bom đạn, hậu quả của chiến tranh và sự khắc nghiệt của cuộc sống thị trường trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước.
Lịch sử truyền thống của nhà trường (1972 – 2016) là một bộ phận gắn kết chặt chẽ, một chương quan trọng trong lịch sử Đảng bộ Hương Sơn trong 80 năm qua. Trường THPT Lê Hữu Trác có được như hôm nay là nhờ sự quan tâm của Đảng, của cán bộ, nhân dân và bàn tay xây dựng của bao thế hệ thầy trò nhà trường. Chúng tôi nguyện cùng nhau phát huy truyền thống quê hương anh hùng, quyết tâm xây dựng nhà trường ngày càng vững mạnh theo hướng chuẩn hóa – hiện đại hóa.
            Qua 44 năm hình thành và phát triển thầy và trò nhà trường đã rút ra những bài học lịch sử:
     Thứ nhất: Vững tin ở tương lai, tin tưởng sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và chính quyền trong việc xây dựng điểm sáng văn hóa - giáo dục trên quê hương Vĩnh Tú anh hùng. Mỗi bước đi của nhà trường là biểu hiện của sự thấm nhuần sâu sắc đường lối giáo dục của Đảng, vận dụng linh hoạt vào hoàn cảnh cụ thể của nhà trường để thực hiện mục tiêu, chủ trương và nghị quyết của Đảng và nhà nước trong giáo dục. Mỗi chặng đường một hoàn cảnh, thuận lợi và khó khăn thử thách khác nhau, có những lúc thăng trầm nhưng có thể nói sự hình thành và phát triển của trường, vị thế và uy tín của nhà trường luôn luôn được khẳng định.
     Thứ hai: Ý thức đồng cam cộng khổ, nhận thức rõ sứ mệnh vẻ vang do Đảng và nhân dân giao phó, đội ngũ thầy cô giáo, nhân viên nhà trường đã nêu cao tinh thần đoàn kết nhất trí, rèn bản lĩnh vững vàng, bất luận trong hoàn cảnh nào cũng quyết tâm xây dựng trường lớn mạnh, xứng đáng với niềm tin của lãnh đạo và nhân dân vùng hạ Hương Sơn. Biến ý chí thành hành động cách mạng, thầy và trò trường THPT Lê Hữu Trác biết chấp nhận khó khăn thử thách, vượt lên hoàn cảnh để dạy tốt học tốt, hòa mình vào cuộc chiến đấu của dân tộc, vào không khí xây dựng của quê hương. Phát huy tinh thân tự lập, tự cường. đồng tâm hiệp lực, phấn đấu hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị là đào tạo thế hệ trẻ nối tiếp nhau làm chủ nhân trong sự nghiệp xây dựng quê hương đất nước. Trong đội ngũ các thế hệ thầy cô giáo, nhân viên nhà trường, nhiều tấm gưong sáng, đức hy sinh vì sự nghiệp giáo dục, vì đàn em thân yêu, để lại nhiều bài học vô cùng quý báu cho thế hệ thầy trò sau này học tập và noi theo.
      Thứ ba: 44 năm hình thành và phát triển, tất cả các thế hệ thầy, cô giáo và học sinh đều dành cho trường và dành cho nhau những tình cảm gắn bó, sâu nặng. Dù đi đâu về đâu, các thầy cô giáo đều hướng về trường, nói về trường với tất cả niềm yêu mến, tự hào bởi ở nơi đây các thầy cô đã dồn tâm huyết, cả máu, nước mắt cho sự lớn mạnh của nhà trường, cho sự trưởng thành của học sinh thân yêu. Các thế hệ học sinh gắn bó thân thiết với mái trường, luôn dành cho thầy, cô những tình cảm kính trọng, ngưỡng mộ nhất. Từ những năm tháng trường được hình thành thầy và trò đồng cam cộng khổ thương yêu đùm bọc giúp đỡ nhau đứng vững trong hoàn cảnh khó khăn chung của đất nước, vươn lên dành nhiều kết quả đáng phấn khởi trong từng năm học.
      Thứ tư: Trường THPT Lê Hữu Trác đi được chặng đường gần nửa thế kỷ, đội ngũ các thầy cô giáo và học sinh hôm nay không bao giờ quên công lao của các thầy cô giáo và các anh chị học sinh lớp trước đã hy sinh vì tổ quốc, hy sinh tuổi thanh xuân, tâm lực và trí tuệ cho sự lớn mạnh của nhà trường. Cũng chính từ mái trường này, các thế hệ học sinh được rèn luyện, học tập, luôn ý thức sâu sắc trách nhiệm và lòng kiêu hãnh về truyền thống vẻ vang của nhà trường, của quê hương để vươn lên không ngừng, đứng vững trong cương vị công tác, tiếp tục đóng góp sức lực, trí tuệ cho quê hương đất nước.
       Chặng đường tiếp theo đang rộng mở, thầy - trò trường THPT Lê Hữu Trác kế thừa truyền thống vẻ vang của nhà trường phấn đấu với tất cả ý thức trách nhiệm, nhiệt tình, xây dựng khối đoàn kết nhất trí để dành những thắng lợi mới. Lãnh đạo, chính quyền và nhân dân các xã vùng hạ Hương Sơn đặt kỳ vọng vào sự phấn đấu của đội ngũ nhà giáo và học sinh sẽ xây dựng trường ngày càng vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
 
PHỤ LỤC
 HIỆU TRƯỞNG NHÀ TRƯỜNG QUA CÁC THỜI KỲ
TT HỌ VÀ TÊN THỜI KỲ GHI CHÚ
1 Văn Đình Chính 1972 - 1980  
2 Nguyễn Khắc Lanh 1980 - 1989  
3 Hồ Thành Kiểm 1989 - 2001  
4 Phan Xuân Cát 2001 – 2004;
2008 - 2010
 
5 Trịnh Văn Huệ 2004 – 2008;
2010 - nay
 
 
                                          BAN BIÊN TẬP TRANG WEBSITE TRƯỜNG
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
Trang thông tin chính thức của Trường THPT Lê Hữu Trác 1
Chịu trách nhiệm nội dung: Phan Hữu Quyền - Điện thoại : 0976.973.465
Địa chỉ: xã Sơn Châu, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Email: thpt.lehuutrac1@gmail.com